BỒI XE ÔNG ÁN-TỬ

Ông Án-Tử làm quan Tể-Tướng nước Tề, tính rất khiêm-nhường. Thế mà người bồi xe ông, khi đánh xe, tay cầm dù, tay cầm cương, vênh-vang ra dáng tự-đắc; người vợ anh bồi thấy thế xin bỏ chồng đi. Chồng hỏi tại sao? Vợ đáp; « Án-Tử người gầy thấp bé nhỏ, làm đến Tướng Quốc, danh tiếng lừng-lẫy khắp thiên-hạ, mà vẫn trầm-trọng nhún-nhường, như chẳng bằng ai. Còn như chàng thì cao lớn đẫy đà, làm một tên đánh xe hèn-hạ, mà đã lấy làm vinh-hạnh, ra bộ kiêu-ngạo, tưởng không ai bằng. Thiếp lấy làm nhục quá, sấu-hổ mà ở với chàng, vậy cho thiếp xin đi. » Tên đánh xe từ đó mới nghĩ ra, bỏ được nết cũ. Ông Án-Tử thấy từ đó tên đánh xe đã biết sửa mình, ông khen người vợ hiền, và cố dậy bảo thêm tên đánh xe, rồi sau cất lên làm quan đến chức Đại-Phu, làm việc rất thanh liêm, nên bực hiền-quan.

NỊNH-THÍCH

Nịnh-Thích là người hiền nước Vệ, lúc nghèo phải đi chăn trâu. Một hôm Tề-Hoàn-Công cùng Quản-trọng đi chơi. Quản-trọng đi xe trước, đến Ngao-Sơn gập Nịnh-Thích. Trọng biết là người hiền, muốn dâng lên vua dùng, mới ngồi trên xe viết một phong thơ dao cho Thích, đợi xe vua đi sau thì dâng thơ sẽ được trọng-dụng. Khi xe Hoàn-Công đến, Nịnh-thích gõ sừng trâu mà hát nhiều câu phạm đến chính-trị. Hoàn-Công sai bắt lại hỏi: « ngươi là một đứa chăn trâu, biết chi đến việc thời chính, vả đương lúc này, Thiên-tử nhà Chu ngồi trên, ta khiến chư-hầu ở dưới mà xưng nghiệp Bá, dân được an cư lập nghiệp, cỏ cây điều tươi-tốt, dẫu đời Nghiêu Thuấn cũng đến thế, sao ngươi cả gan dám hát chê bai? » Thích đáp: « Kẻ tiểu-nhân đâu dám chê-bai việc thời chính. Tôi tuy là kẻ thôn-phu, song được đọc sách cũng biết đời vua Nghiêu, Thuấn 10 ngày một trận gió hòa, 5 bữa một đám mưa xuân, dân gian làm ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, biết thuận phép vua. Đời nay có được thế chăng? sao Minh-Công lại nói hơn xưa được? Tôi lại nghe vua Nghiêu-Thuấn trị vì trong nước được yên, chư-hầu kính-phục. Nay Minh-Công làm nhiều điều, các chư hầu còn phản-kháng, thường sẩy việc can qua, sao gọi được là an cư lạc nghiệp, cỏ cây tươi tốt được? Vua Nghiêu xưa bỏ con, nhường ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn còn lánh đi nơi khác, bá tính theo mà lạy-lục cung-phụng, bất đắc dĩ mới phải lên ngôi; còn như Minh-Công thì giết anh mà tranh nước, giả lịnh thiên-tử mà khiến chư-hầu, chẳng hay Nghiêu Thuấn xưa kia cũng thế chăng? » Hoàn-công giận quá sai đem chém. Thích chẳng sợ-hãi, ngửa mặt than rằng: « Xưa vua Kiệt giết Long-Phùng, vua Trụ giết Tỉ-Can, nay Thích này bị giết nữa, ấy là đủ ba người hiền rồi! » Quan hầu vua là Thấp-Bằng xin vua tha. Hoàn-Công sai cổi trói và an-ủy, bàn việc chính-trị thì nhất nhất Thích đều nói hợp lẽ. Vua phong thưởng làm chức Đại-Phu, giữ việc quốc-chính. Bấy giờ Thích mới dâng phong thơ của Quản-Trọng tiến cử. Hoàn-Công hỏi sao không đưa trước cho rồi? Thích đáp: « Tôi nghe chúa hiền lựa người mà dùng, tôi hiền chọn chúa mà dúp, nếu Chúa-công ghét lời ngay, ưa lời nịnh, lấy lòng dận mà đãi kẻ hiền thì tôi thà chịu chết chứ không chịu dâng thơ của Quản-Trọng, ấy cũng là một cách thử-thách kén chọn của người hiền, xin chúa-công lượng xét ».

MINH CHÚA VÀ HIỀN THẦN

Bào-Thúc-nha, Quản-Trọng và Nịnh-Thích đều là hiền thần của Tề-Hoàn-Công, một hôm Hoàn-Công mở tiệc đãi các chư hầu. Đang tiệc, Hoàn-Công đắc ý nói: « Hôm nay ta ăn tiệc thực vui quá, đáng làm một vị bá các chư-hầu » Thúc-nha thấy vua có ý tự đắc với các chư-hầu, vội đứng dậy chắp tay nói rằng: « Tôi nghe minh chúa và hiền thần, tuy lúc vui cũng chẳng nên quên lúc lo. Cúi xin chúa-công đừng quên lúc hoạn-nạn chạy qua nước Lữ, Quản-Trọng đừng quên lúc ở tù-xa, Nịnh-Thích đừng quên lúc chăn châu, thì nghiệp bá mới vững được. » Nghe câu nói, Hoàn-Công biết mình có lỗi kiêu-ngạo với các chư-hầu, vội đứng lên bảo các quan rằng: « Từ nay dẫu vui mấy, quả nhân xin thề cùng các quan không bao giờ dám quên những lúc hoạn-nạn trước, các ngươi cũng nên bắt trước lấy! » Rồi quay lại xá Thúc-Nha 2 xá mà dự tiệc. Xem thế đủ biết Thúc-Nha là người cương-chực, Hoàn-Công là một bậc minh-chúa, biết nghe nhời nói thẳng, ấy cũng bởi vận Tề đang thịnh, nên vua tôi một lòng.

HAM HẠC MÀ CHẾT

Vệ-ý-Công tính ưa nuôi nhiều hạc trắng, mà chễ biếng việc nước. Ai dâng hạc cũng được trọng thưởng, hạc có đến mấy trăm con, con nào cũng có phong tước, ở gác son vườn tía. Những người coi hạc có kẻ làm quan đến Đại-Phu, lương bổng rất nhiều, quân lính thì đói rách khổ-sở, trăm họ oán-thán. Ít lâu có Tẩu-Man đem binh đánh Vệ, Vệ-ý-Công nghe tin cả kinh, sai điểm binh cự chiến, nhưng quân sĩ đều chốn sạch. Ý-Công hỏi tại sao? Quân-sĩ đều tâu: « Tưởng Chúa-Công đã có đàn hạc là đủ cự-địch rồi, cần gì đến chúng tôi, nếu Chúa-Công sớm biết hạc không chinh chiến được, là đồ vô dụng, sao Chúa-Công lại bỏ vật hữu dụng mà dùng đồ vô dụng, bây giờ có biết dụng cũng chễ rồi! » Ý-Công phải thả tất cả hạc cho bay đi, rồi hiểu dụ quân-sĩ, mới hiểu dụ được ít quân, song đi đường quân-sĩ vẫn ca thán rằng: « Hạc ăn lương, dân cầy ruộng, hạc đi xe, dân cầm dáo, hạc hưởng sự lành, dân chịu điều dữ, ra trận phen này cửu tử nhất sinh! » Khi dáp chiến, chửa đánh đã chạy, Vệ-ý-Công cùng các tướng đều bỏ mình nơi trận-địa, thế là nước Vệ mất, vì mấy con hạc tốt mã.

NGHĨA KHÍ KẺ MÙ

Lôi-Hải-Thanh lòa, làm quan Điển-Nhạc-Lang đời Đường coi bọn con hát và đàn nhạc. Sau An-Lộc-Sơn cướp nước làm loạn, chiếm dữ kinh thành, vua Đường phải chạy chốn vào Bao-Thục, Một hôm Lộc-Sơn mở tiệc ăn mừng, bắt các nhạc công múa hát. Đang tiệc vui, bỗng có tiếng khóc. Lộc Sơn liền sai lôi người nào khóc ra chém và hỏi tại sao? Té ra là quan coi nhạc Lôi-Hải-Thanh. Khi bắt ra, Thanh ném đàn vào mặt Lộc-Sơn mà nói rằng: « Ta dẫu mù lòa, chữ nghĩa ít, song cũng biết trung nghĩa, hết đạo làm tôi, nay mày cướp ngôi vua, làm tôi như vậy à? Tao dận không sáng mắt mà diết mày nên tao khóc. Nay tao ăn lộc vua mà thấy vậy không dúp được nhà vua mà báo cừu, thì chỉ có cái chết là đền được ơn thôi, há lại thay mặt đổi lòng mà hầu-hạ những quân phản-tặc như mày à? » Nói song sông lại đánh Lộc-Sơn. Sơn dận sai đem chém.

Theo CỔ NHÂN ĐÀM LUẬN