LẬP KẾ CAN VUA

Khương-Thị là mẹ Trịnh-Trang-Công. Tuy là mẹ nhưng không yêu Trang-Công, mới lập mưu định với con thứ yêu hơn là Cung-Thúc, định đem binh ở ngoài về diết anh đi mà làm vua. Thư từ đi lại, chẳng may Trang-Công biết, đem binh diết em đi và đầy mẹ ra đất Dĩnh, thề độc với mẹ rằng: « Từ nay quyết không nhìn mẹ nữa, bao giờ cùng chết xuống huỳnh-tuyền mới nhìn nhau. » Quan Trấn-Ải là Dĩnh-Khảo-Thúc thấy vua làm như vậy than rằng: « mẹ tuy chẳng phải nghĩa mẹ, song con cũng không nên bỏ đạo con, thôi thế là phong-hóa nát rồi ! » Bèn đi tìm mấy con chim Xi-hiêu, mượn cớ là dâng thịt rừng, vào chầu Trang-Công. Vua hỏi: « ngươi cho ta chim gì lạ vậy ? » Khảo-Thúc đáp: « Tên nó là Xi-hiêu, ban ngày thì vật lớn như núi Thái-Sơn nó cũng không thấy, nhưng ban đêm thì dẫu vật mẩy may nó cũng trông rõ. Vật nhỏ thì thấy, vật lớn thì mù. Lúc nhỏ mẹ tha mồi nuôi nó, lớn lên lại mổ mẹ mà ăn thịt đi, ấy là chim bất hiếu. nên bắt nó mà ăn, nhưng thịt nó ngon, nên đem vào dâng Bệ-Hạ. » Vua nghe nói động lòng làm thinh sai đãi tiệc. Khi ăn tiệc Khảo-Thúc lại cắt một miếng thịt dê ngon dấu vào tay áo. Trang-Công trông thấy hỏi sao vậy. Thúc đáp: « Tôi còn mẹ già, nhà nghèo không có chi, mỗi ngày thường chỉ kiếm thịt rừng dưng mẹ tôi ăn cho lạ miệng, chưa từng được hưởng miếng đỉnh-chung, nay Bệ-Hạ cho tôi ăn đây, còn mẹ tôi ở nhà chưa đặng hưởng chút ơn vua, tôi tưởng đến mẹ tôi, nuốt sao cho vào, nên phải mạn phép ăn cắp một ít lộc vua, để đem về nấu canh dâng mẹ tôi : » Vua nghe nói cảm-động, dưng dưng nước mắt. Thúc vội hỏi: « sao Bệ-Hạ lại buồn như vậy ? » Vua nói: « Khanh có mẹ mà phụng-dưỡng, được chọn đạo làm con, ta đây giầu sang đến bực chư-hầu, mà chẳng thờ mẹ đặng, thực không bằng khanh, nên đau lòng mà khóc. » Khảo-Thúc dả vờ chẳng biết, ngạc-nghiên hỏi rằng: « Kìa thế Khương-Thái-Hậu mạnh dỏi thế nào, sao Bệ-Hạ lại nói không thờ mẹ đặng? » Trang-Công mới kể đầu đuôi và có thề độc như vậy. Khảo-Thúc nói: « Nay Cung-Thúc đã thác, Khương-Thái-Hậu còn có mình Bệ Hạ là con, nếu chẳng phụng-dưỡng, thì khác-chi loài chim Xi-Hiêu, nếu còn ngại lời thề, tôi xin lập kế dải. » Rồi Khảo-Thúc sai người ra chân núi Ngưu-Tì, đào xuống rất sâu đến mạch, làm một cái nhà có thang bắc xuống, rồi mời Khương-Thị xuống ở, tỏ nỗi Trang-Công đã ăn-năn tội và nhớ mẹ lắm, song mời Trang-Công cũng xuống đó mà gập mẹ, rồi mới rước về cung phụng-dưỡng. mẹ con được chọn đạo mẹ con, ấy cũng là nhờ lòng trung Khảo-Thúc, vua Trang-Công được tiếng là con thảo, hậu thế không cười, cũng là nhờ ơn Khảo-Thúc.

LỜI NÓI CHÍ-KHÍ

Trịnh là nước nhỏ, Tề là nước nhớn. Một khi Trịnh-Trang-Công sang hội với Tề-Hi-Công, Tề-Hi-Công có một người con gái nhỏ muốn gả cho con Trịnh-Trang-Công là Thế-tử Hốt. Trang-Công về bảo con rằng: « nước Trịnh ta nhỏ, nay nước Tề muốn kết nghĩa với ta, nếu được như vậy thì sau này có việc chi cũng nương-nhờ đặng, vả chăng việc này là tại đằng kia muốn gả, chớ không phải tại ta, con nên ưng-thuận. » Hốt thưa: « Thê dả tề dả, mới là phối-ngẫu, nay Tề nhớn, ta nhỏ, nhớn nhỏ không sứng, con không dám với cao. Vả đứng làm giai, mình phải tự lập lấy mình, há đi trông cậy người, vị việc sang cả, mà định trông nhờ về việc hôn-nhân ấy, sau này mượn thế người, ỷ quyền nhà vợ mới dữ được nước sao, xin cha chớ ép, con không ưng-thuận đâu. » Tề-Hi-Công nghe câu truyện đó, khen Hốt còn nhỏ tuổi mà chí-khí khiêm-nhượng, nên không nói đến việc hôn-nhân ấy nữa.

 TRÙNG-NHĨ

Trùng-Nhĩ là con vua nước Tấn, vì việc phế trưởng lập thứ, mà phải chạy chốn ra các nước, long-đong 19 năm giời đói rét khổ-sở, các người theo phò đều hết lòng giúp chúa như Hồ-Mao, Hồ-Yển, Triệu-Thôi, Giới-Tử-Thôi, Ngụy-Thù, v…v… đều là hào-kiệt. Có khi đói quá, hết cái ăn. Tử-Thôi phải cắt thịt đùi dâng, mong giúp Trùng-Nhĩ về nước làm vua. Đến sau nhờ binh Tần đưa về nước. Khi sắp về đến nước, qua sông Huỳng-Hà, Hồ-Thúc là người giữ hành lý cho Trùng-Nhĩ trong khi lánh nạn, đang gom góp những đồ thường dùng 19 năm cực khổ, áo rách cơm khô, dổ nát. chén vỡ, chiếu rách, nệm sơ. đều sai khiêng xuống thuyền hết; Trùng-Nhĩ thấy vậy cười bảo rằng: « Ta nay về làm vua, ăn ngọc cũng có, những vật rách vỡ ấy còn dụng làm chi ». Nói rồi sai quân bỏ cả lại trên bờ, Hồ-Yển thấy vậy than rằng: « Công-Tử chưa đặng giầu sang đã sớm quên nghèo đói, ngày kia thương mới bỏ cũ, chúng ta còn có ra chi, những ngưới theo lúc hoạn-nạn đây, ví cũng như đồ rách vỡ đó, uổng thay 19 năm cơ-khổ, nay thấy quang cảnh như vầy, cũng nên sớm từ đi, sau còn có ngày nhắc tới ». Nói song đem hòn ngọc của Tần-mục-Công trước cho riêng mình, quỳ trước mặt Trùng-Nhĩ thưa rằng: « Nay Công-Tử về làm vua, trong có chư-thần, ngoài có Tần-Tướng, tôi có theo cũng là vô-ích, xin cho tôi làm ngoại-thần ở xa cũng đặng. Nay có viên ngọc đem dâng đặng làm vật kỷ-niệm. Tôi nghĩ khi Công-Tử còn lênh-đênh đất khách, tôi hết lòng phò, nay về đến nước rồi, sét bổn-phận tôi long-đong, sức mỏi gối dùn, ví như của rách vỡ kia, có để cũng là vô-ích, nên tôi xin kiếu trước ». Trùng-Nhĩ nghe xong, nghĩ mình đáng tội, dưng dưng nước mắt, liền sai lại khuân hết đồ vỡ rách đó xuống thuyền, rồi dòm xuống sông mà thề rằng: « Tôi về nước mà quên ơn ai, thời con cháu tuyệt-diệt. » Rồi quăng viên ngọc suống sông bảo rằng : Hà-Bá làm chứng. Trong bọn theo phò về đó, duy có Tử-Thôi nghe câu truyện đó, lấy làm buồn-bực, bỏ mà về nhà, cam chịu nghèo hèn đói khát, dệt chiếu đóng dầy nuôi mẹ già, một hôm mẹ bảo rằng: « Con theo phò vua 19 năm giời, dan-nan lao-khổ, cắt thịt vua ăn, sao chẳng vào chiều nhắc lại, đặng nhờ đôi ba đấu gạo, chẳng hơn chịu khổ thế này sao? » Tử-Thôi thưa: « Tôi thà chọn đời đóng dầy dệt chiếu, chớ chẳng dám tham công mà mong lộc của ông vua bạc đó ». Mẹ nói: « Con biết làm hiền-sĩ, ta lại không biết làm mẹ hiền-sĩ sao » Rồi 2 mẹ con đưa nhau vào rừng, cất lều trong khe núi Miên-Thượng ở. Sau Trùng-Nhĩ nhớ đến công, cho mời ra, ông không ra, sai đốt rừng để sợ mà ra, ông cũng không ra ; hai mẹ con chịu chết cháy với nhau trong rừng. Vua than khóc, sai lập miếu thờ, và cấm hết dân-dan năm nào cũng đến hôm đó là mồng 3 tháng 3 không được dùng lửa, ấy là Hàn-Thực-Tiết mà ta bắt trước theo Tầu đó.

Theo CỔ NHÂN ĐÀM LUẬN