Tiếp theo của phần I

Vì vậy người ta không sáng tác được thể thợ giải phóng. Vì vậy biến thể của thơ cũ mà ta cho là phải tự nhiên mà có cũng không có nữa,

Và tôi đã nghiên cứu nguồn gốc của thơ mới bằng cách đặt một giả thuyết; giả thuyết ấy sẽ hoàn toàn và mãi mãi là một giả thuyết.

Phải chờ những cơ hội khác, thơ giải phóng mới ra đời được.

Gốc của thợ mới 

Từ khi thơ mới xuất hiện trong làng văn ta, người ta đã bàn tán nhiều lắm về gốc thơ mới. Theo phái này, thì người làm thơ mới đầu tiên là ông Nguyễn Văn Vĩnh với bài dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine.

“ Con ve sầu, kêu oe oe

 “ Xuốt mùa hè :

“ Đến kỳ gió bấc thổi, 

“ Nguồn cơn thật bối rối …

Phái khác bảo “ Ông tổ ” của thơ mới là thi sĩ Tản Đà, tác giả bài:

“ Non xanh xanh, nước xanh canh, 

“ Nước non như vẽ bức tranh tình 

“ Non nước tan tành … ”

Có người lại cho rằng từ trước năm 1930, một sinh viên trường Cao đẳng ở Hanoi đã làm một bài thơ phỏng theo thơ Pháp. Bài thơ ấy ra đời bị báo Nam Phong bóp chết ngay. Rồi cách đây mấy năm, ý kiến làm thơ ta theo thể thơ Pháp lại được một bực đàn anh trong làng văn đem ra thực hành. Ông Phan Khôi với bài Tình Giá: 

“ Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa, 

“ Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh

kề nhau than thở :

“ Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng mà lấy nhau hẳn thì không đặng, 

“ Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau. 

Có người lại nhất định bảo thơ nhà chung ta cho là “ mới ” chỉ là một thứ thơ cổ, cổ lắm: Từ khúc. Người ta bảo nếu đem bài sau này ký tên một nhà thơ mới, rồi đem đăng lên báo, nói là thơ mời đây, thì ai cũng phải cho là thơ mới, Sự thực nó chỉ là một bài Từ Khúc trích trong báo Hữu Thanh xuất bản từ hơn 15 năm trước: 

“ Lá liễu xanh 

“ Hoa hồng đỏ 

“ Trăng mạng tỏ 

“ Thấp thoáng trong màn ai to nhỏ. 

“ Ai to nhỏ ? 

“ Vườn xuân có bạn có tốt 

“ Thơ xuân đầm ấm dương hòa 

“ Dan díu cùng ai lời thề thốt, 

“ Khi chơi hoa …” 

Tội bác hẳn ý kiến này, vì sao tôi sẽ nói sau. Tôi hãy tạm nói rằng dầu lòng tự ái của chúng ta mạnh đến đâu ta cũng phải công nhận rằng các Thơ tự do của chúng ta là thợ phỏng theo thể thơ Pháp; nó có giống Từ Khúc, giống bài Non xanh xanh, nhưng nó không phải là Từ Khúc, cũng không phải tự ai đã sáng tác ra nó.  

Thơ Pháp : phần tiếng

Vì vậy, muốn đi sâu vào cuộc nghiên cứu của chúng ta tôi cần phải nói đến thơ Pháp mà ta đã dùng làm kiểu mẫu ấy.

Một câu thơ Pháp cũng như thơ Anh, Ý, Đức… Có những phần tiếng đọc được gọi là “ chân ” thơ.

Từ trước đến nay, người ta Tàn tính một  “ phần tiếng ” đọc được là một “ chân ”. Nếu như vậy người ta cứ việc đếm số “ phần tiếng ” đọc được ấy và người ta cứ nói rằng trong câu thơ này có bấy nhiêu “ phần tiếng ” đọc được cần gì phải đặt ra tiếng chân làm gì cho lôi thôi. Đó là một lẽ, lẽ thứ hai là cách tính chân như trên không có gì là chuẩn đích cả. Tiếng Pháp, cũng như tiếng ta, có nhiều tiếng người ta có thể tính là một chân hay hai chân cũng được. 

Thí dụ về thơ, người ta có đặt ra một cái lệ: nếu trong một câu thơ tính thừa một chân thì có thể cắt một chân đi như tiếng encore chẳng hạn. Sao người là không đặt cái lệ: nếu trong

một câu thơ thiếu một chân thì có thể tách đôi một tiếng ra làm hai chân. Hoặc trái lại.

Những thí dụ về thơ Pháp các bạn có thể tìm thấy một cách dễ dàng. Tôi nói thêm về thơ ta:

“ Thương nhau cởi áo cho nhau ” nếu ta đọc

“ Thương cởi áo cho nhau ”, nhạc điệu câu thơ cũng không đổi mấy. Trong tiếng ta còn bao nhiêu tiếng như vậy: “ thuần ”, “ nhiên ”.

Các bạn đã nhận thấy sự không chắc chắn của cách tính chân của thơ Pháp và ta từ trước đến nay, nó không đáng để cho ta chú ý đến thế mới phải.

Cái chân đáng kể trong câu thơ là “ chân điệu ”.

Chân điệu (ir pied rythmique) 

Một chân điệu thơ là một hay nhiều tiếng (chân tiếng) hợp lại ;

chân ấy có thể gây nên nhiều tiếng nhạc hợp với nhau để gây nên một điệu nhạc. Thứ nhất là cần phải đủ nghĩa để người ta có thì ngừng đọc lại được. Tôi có thể vẽ những điệu ấy. Vē?  hoặc:  Tôi lấy một thí dụ:

Tiếng sóng đổ sen từng hồi yên lặng

(Thế Lữ. Mấy vần thơ)

ta hãy tưởng tượng một làn sóng đổ vào bờ rồi từ từ và lặng lẽ xa ra…

Một nhà thông thái Pháp, muốn khảo cứu về thơ, sáng chế ra một cái máy để chép lấy những điệu thơ. Hai cái ống cao su để vào hai lỗ mũi, một cái ông nói đề sát vào miệng. Ngâm một câu thơ hay, có âm điệu, ta thấy điệu ấy được vẽ trên mảnh giấy bằng một cái bút của máy. Đọc thơ của mỗi một người ta lại có một thứ đường ( tức là điệu ) có một đặc sắc riêng. 

Giở lại với chân về điệu của thơ, ta hãy phân tách: 

Một câu thơ: một đan vị thuần nhất

“ Đêm mờ mờ  khoảng không dần mờ mờ 

“ Thuyền, lặng lờ như trời trong giấc mơ. ”

Thao-Thao 

Ta có ở mỗi câu tám tiếng và ba chân. Mỗi chân có đủ nghĩa là người ta ngừng giọng lại một lát ngắn.

Một hay nhiều chân hợp lại thành một câu thơ.

Nhưng nếu chân thứ nhất đã đủ nghĩa thì sao không đặt thành một câu thơ: 

“ Đêm mờ mờ, 

“ Khoảng không dần mờ mờ. 

“ Thuyền lặng lờ 

“ Như trôi trong giấc mơ ”

Đặt như vậy ta và có 4 câu thơ tự do.

Trả lời câu này ta đã tìm ra một đặc sắc nó định nghĩa thơ tự do một cách chắc chắn hơn.

Lấy thí dụ khác: 

“ Huyền Trân ơi 

“ Xin mãi mãi chia phôi, ”

(Huy-Thông) 

Theo luật nào ta sếp những chân về âm điệu ấy. Nếu ta sếp: “ Huyền Trân ơi, xin mãi mãi chia phôi ”, ta phải ngắt hơi thở từ đâu ? 

Đây ta phải viện hai lẽ nữa, hai lẽ chính phân biệt hẳn thơ đường, thơ cổ thể với thơ tự do. 

Câu thơ phải là một đan vị thuần nhất. Mà đặc sắc là ba duy nhất: duy nhất về ý nghĩa, duy nhất về thị giác, và duy nhất về nhạc điệu. 

Từ trước, về thơ nào người ta cũng vẫn có những luật ấy nhưng sau dần dần cái luật duy nhất về âm điệu được người ta chú trọng đến hơn. Trong một bài thơ người ta làm những câu có số tiếng nhất định là để cho có cái duy nhất về âm nhạc.

Người ta còn nói đến nhiều duy nhất khác nữa nhưng tóm lại chỉ ở trong ba duy nhất trên mà thôi.

Những câu thơ hoặc giải phóng có thể là những duy nhất ấy nhưng không phải câu nào cũng là những duy nhất ấy cả. 

Thơ tự do (1) thì trái lại, 

Người còn nói rằng mỗi câu thơ tự do là một công trình sáng tác mà tài liệu là một ý thơ, và một mà thôi. Tôi không bàn thêm nữa vì sợ đi vào địa hạt của lý thuyết và chuyên môn.

Tôi hãy chỉ ở trong phạm vi trật hẹp của ba đặc sắc ấy cũng đã tạm để đủ để phân biệt hai thể thơ rồi.

LÊ THANH

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Về thơ tự do xin đọc cuốn: Nos premiers poèles de Vers libres của Du-jardin và bài tựa tập “ Premiers poèmes ” của G. Kabn.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn