JANICE HISLE

LITTLE ROCK, ARKANSAS — Việc phẫu thuật cắt bỏ các bộ phận thân thể và phá hủy chức năng khỏe mạnh của con người “vi phạm một trong những nguyên tắc căn bản nhất của phẫu thuật thẩm mỹ,” Tiến sĩ Patrick Lappert đã làm chứng, giải thích lý do vì sao ông từ chối cắt bỏ ngực của những phụ nữ muốn trông giống nam giới.

Hôm 29/11, ông Lappert đã đứng ra làm chứng tại tòa án liên bang nơi đây với tư cách là một nhân chứng cho tiểu bang Arkansas – nơi đang bảo vệ một cuộc tấn công pháp lý đối với luật cấm các thủ thuật y tế chuyển giới cho trẻ vị thành niên.

Những biện pháp đó bao gồm chích hormone và phẫu thuật, chẳng hạn như phẫu thuật cắt bỏ bầu ngực mà những người đề nghị “chăm sóc khẳng định giới tính” ủng hộ như một phương pháp chữa trị cho những cô gái đang đau khổ vì những nét nữ tính trên cơ thể họ.

Đầu năm nay, ông Lappert đã làm chứng cho một dự luật tương tự ở Alabama, nơi ông sinh sống.

Ông Patrick Lappert, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Alabama, nói chuyện trước Cơ quan lập pháp tiểu bang Alabama về tác động của việc điều trị chuyển đổi giới tính đối với trẻ vị thành niên, từ quá trình hành nghề của ông tại Lappert Skin Care, hôm 13/04/2022. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của ông Patrick Lappert)

Phiên tòa Arkansas đã bắt đầu hồi tháng Mười nhưng tạm dừng trong một tháng trước khi tiếp tục buổi làm chứng nhằm hỗ trợ cho Đạo luật Cứu Thanh thiếu niên Khỏi Thử nghiệm (Save Adolescents From Experimentation, SAFE) của Arkansas. Luật đó đã bị đình chỉ trong khi cuộc chiến pháp lý vẫn đang tiếp diễn, vốn đã bắt đầu ngay sau khi luật được thông qua hồi tháng 04/2021.

Thẩm phán James Moody Jr. sẽ đưa ra phán quyết về vụ án tên là Brandt kiện Rutledge này; đây là bài kiểm tra pháp lý đầu tiên của quốc gia đối với một luật như vậy.

Các luật sư từ Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ (ACLU) muốn luật này bị coi là vi hiến. Một trong những lập luận chính của họ là: việc tiểu bang cấm các thủ thuật y tế cho mục đích chuyển giới nhưng lại cho phép các thủ thuật vì những lý do khác là phân biệt đối xử.

Nhưng ông Lappert đã làm chứng rằng trong quá trình hành nghề phẫu thuật tư nhân của mình, ông từ chối thực hiện một số thủ thuật tùy thuộc vào mục đích đã định – một sự tán thành đối với luật này, vốn đang tìm cách cấm các thủ thuật vì mục đích chuyển đổi giới tính.

Ông nói rằng việc nâng ngực cho một phụ nữ trưởng thành đã hết tuổi sinh nở là có thể chấp nhận được; nhưng sẽ là không phù hợp để làm điều đó cho một thiếu nữ chưa trưởng thành và có thể gây nguy hiểm cho khả năng nuôi con bằng sữa mẹ trong tương lai của cô ấy.

Bên trong tâm trí bệnh nhân

Là một bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ và tái tạo, ông Lappert cho biết ông cũng phải tìm hiểu về tâm lý học. Ông nói, điều cần thiết là phải xem xét lý do bệnh nhân muốn phẫu thuật, cùng với hình dạng và chức năng của các bộ phận cơ thể mà bệnh nhân muốn phẫu thuật thay đổi.

Ví dụ, có một sự khác biệt giữa việc phẫu thuật nâng ngực cho một phụ nữ chỉ thấy điều đó trông dễ chịu “về mặt thẩm mỹ”, so với một người nghĩ rằng việc có bộ ngực lớn hơn sẽ giúp cô không mất đi người bạn đời thân thiết của mình, ông Lappert nói.

Tương tự như vậy, cắt bỏ bầu ngực của một bệnh nhân ung thư là một chuyện; ông nói, nhưng đó là một chuyện khác khi thực hiện phẫu thuật cắt bỏ bầu ngực cho những bệnh nhân trẻ tuổi – những người tin rằng việc thay đổi cơ thể sẽ giúp họ thoát khỏi nỗi đau khổ về bản dạng giới của mình.

Thế nhưng, đó lại là một trong những thủ thuật được dán nhãn là “chăm sóc khẳng định giới tính” – những thủ thuật mà Đạo luật SAFE tìm cách đặt ngoài vòng pháp luật.

Ông Lappert cho biết các bác sĩ phẫu thuật chịu trách nhiệm tìm ra những bệnh nhân có niềm tin không thực tế về lợi ích của các ca phẫu thuật mà họ yêu cầu. Ông nói: “Những bệnh nhân này có “một kỳ vọng về hạnh phúc – điều không thể đạt được thông qua phẫu thuật thẩm mỹ.”

Ông Lappert cho biết, họ có thể đổ lỗi cho nỗi đau của mình là do một thuộc tính vật lý “bởi vì họ không muốn nhìn vào nguyên nhân thực sự của nỗi đau.”

Ông nói, những bệnh nhân này đang tìm kiếm một giải pháp phẫu thuật cho một cuộc xung đột nội tâm.

Như ông Lappert đã tuyên bố rõ ràng trong một văn bản nộp lên tòa án: “Quý vị không thể chữa lành một vết thương tâm lý bằng phẫu thuật thẩm mỹ.”

Ông Lappert nói, việc loại bỏ những mối quan tâm như vậy và cho bệnh nhân những gì họ muốn để theo đuổi hạnh phúc là phi đạo đức. “Quý vị đang lạm dụng bệnh nhân đó.”

Bởi vì sau một thời gian hưng phấn hậu phẫu ban đầu và cảm giác mới lạ biến mất, một bệnh nhân như vậy “sẽ bị bỏ rơi với chính nỗi đau đó và một hóa đơn phẫu thuật thẩm mỹ, cùng hy vọng không thành hiện thực của họ,” ông Lappert nói.

‘Sự đồng thuận kiểu Castro’ xuất hiện

Ông Jacobs, phó luật sư của Tổng chưởng lý Leslie Rutledge dường như đã ghi được một số điểm khi ông yêu cầu nhà xã hội học Mark Regnerus, người làm chứng khi ở hải ngoại, thảo luận về việc đánh giá các bài báo và bài diễn văn của ông, vốn đã tiết lộ về một “Sự đồng thuận kiểu Castro” (lãnh đạo Cuba) tiềm năng về cách tốt nhất để giúp đỡ những thanh niên bị xung đột giới tính.

Ông Regnerus giải thích rằng một sự đồng thuận bắt buộc như vậy sẽ giả dạng như sự thật.

Ông nói: “Sự thật trở thành bất cứ điều gì mà ‘sự đồng thuận’ này cho rằng là như vậy.”

Là một giáo sư xã hội học tại Đại học Texas ở Austin, ông Regnerus cho biết ông đã xét đến hiện tượng chuyển giới bằng cách sử dụng quá trình đào tạo của mình với tư cách là một nhà xã hội học để nghiên cứu xem nó đã biến đổi như thế nào.

Ông Regnerus cũng nói rằng ông nghi ngờ “việc nắm bắt ý thức hệ” đã được thực hiện.

Các nhà hoạt động đã tấn công những người bất đồng chính kiến, những người ​​phản đối các thủ thuật y tế chuyển giới; ông Regnerus cho biết một số người đã mất việc hoặc bị giáng chức chỉ vì ghi lại các hiện tượng mà họ quan sát được.

Do đó, các nhà hoạt động dường như cũng đã làm thay đổi quan điểm của các hiệp hội chuyên nghiệp lớn như Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ và Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ. Ông Regnerus cho biết các nhà hoạt động đã dựa vào thẩm quyền của các tổ chức đó để thúc đẩy một nghị trình và hệ thống niềm tin cụ thể.

Ông cũng lưu ý rằng những thay đổi trong ngôn ngữ, dường như được thúc đẩy bởi ý thức hệ, đang ảnh hưởng đến cách làm việc của các nhà nghiên cứu. Một ví dụ là: việc sử dụng ngày càng nhiều thuật ngữ “giới tính khi sinh”.

Từ bao lâu nay, “chúng ta đã hiểu rằng giới tính là từ ‘quan sát’,” và rằng bất kỳ ai cũng có thể biết giới tính của một đứa trẻ – trai hay gái, chỉ cần nhìn là thấy. Nhưng bây giờ, ông Regnerus nói, “chúng ta thực sự đang đưa ra các cuộc khảo sát đến mọi người để hỏi rằng: ‘Giới tính khi sinh của quý vị là gì?’”

Việc sử dụng thuật ngữ mới này cho thấy “có một giá trị cụ thể được gắn vào đó,” ông nói. “Nó báo hiệu việc nắm bắt ý thức hệ của… phương pháp mà chúng ta [dùng để] văn bản hóa những điều căn bản.”

Thanh Tâm biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn