Sau các bài bàn về thanh vận, của tôi và của ông Trúc-Khê, lục-tục đăng trên Phổ-Thông bán nguyệt san, số 74, 76, 77, chúng tôi đã thừa nhận lẫn của nhau ít nhiều ý kiến.

Tuy nhiên, hai chúng tôi còn biện xác lẫn nhau về một chuyện: tôi thì cứ theo cũ, cứ cho các tiếng dấu ngã thuộc về thanh thưởng, và cứ cho các tiếng dấu sắc khự thuộc về thanh khự; ông thì ưng đổi mới, ưng đem các tiếng dấu sắc khự lên bục trường thưởng, và ưng đem các tiếng dấn ngã xuống bực trường khự. Tuy còn một chuyện mà thôi, nhưng chuyện ấy, – đối với văn-học, nhất là đối với khoa học, – lại là một chuyện thật nhiều quan hệ. Vì thế, tôi lại xin cùng ông bàn thêm, độ mong giải quyết một cách thỏa mãn, cái vấn đề “Thanh vận tiếng Nam”. 

Muốn cho giản-tiện, tôi xin dùng cái biểu này để chỉ minh cái thuyết về thanh của tôi. 

Tôi sở-dĩ sắp-đặt chủ-trương như vậy, chính là tôi cố ý chỉ-định cung tiếng nào thuộc về loại tiếng nào, bục tiếng nào thuộc về cung tiếng nào, và dấu tiếng nào thuộc về bực tiếng nào. Tôi đã sưu-tầm khảo-cửu, suy đi nghĩ lại, không biết đã mấy năm, mới lập thành thuyết ấy. Trước khi chưa lý-hội được, phân vân thì thật có phân-vẫn ! Nhưng sau khi ly hội được rồi, thì vốn không trù-trừ lượng-lự. Tôi đã bằng theo tập quán và bằng theo vật-lý-học, chỉ vì tôi nhận thấy, trong sự chỉ-định vị-thứ của các dấu tiếng đối với các thứ thanh, tập-quán của mấy trăm triệu người Tàu và của mấy mươi triệu người Nam, từ thuở đến giờ, chưa có điều gì quai-ngang với vật-lý-học cả. Vậy xin thuyết minh giảng-giải mấy điều kiện-giải của tôi :

?

Một tiếng nói (un son vocal) là một sự-kiện vật-lý (un fait physique). Nó từ cửa miệng phát ra, động đậy không-trung, rồi mới lọt vào lỗ tai. Nó ra, nó động đậy, nó vào, thế mà nó làm ba việc: ra, động đậy và vào. Làm được ba việc ấy, nó phải dùng một: khoảng thời gian.

Trong khoảng thời gian ấy người ta có thể phân biệt hai thời kỳ;

1: Lúc nó ra và động-đậy là thời-kỳ phá-âm (émiss on des sons). 

2 Lúc nó vào lỗ tai là thời-kỳ thẩm-âm (perception des Sons).

Hai loại tiếng Bốn cung tiếng Tám cung bực Tám dấu tiếng
Bằng Bình Trường-bình không
Đoản-bình huyền

Trắc

Thưởng Trường-thưởng ngã
Đoản-thưởng hỏi
Khự Trường-khự sắc-khự
Đoản-khự nặng-khự
Nhập Trường-nhập sắc-nhập
Đoản-nhập nặng-nhập

Sự phân biệt hai thời-kỳ như thế rất là quan-trọng trong việc nghiên-cứu về ngữ-ngôn. 

Trong khi khảo-sát các tánh-chất (proprietés) các phẩm-cách (qualités) của một tiếng nói, người ta có thể dùng hai phương pháp: khách-quan và chủ-quan. Khi xét nó ở thời-kỳ phát-âm thì người ta thường dùng phương-pháp khách-quan, khi xét nó ở thời-kỳ thẩm-âm, thì người ta thường dùng phương-pháp chủ-quan. Vậy cho nên các tánh-chất, các phẩm-cách của nó cũng có thể là khách-quan hoặc là chủ-quan. Tánh-cách khách quan là tánh-cách sở hữu của nó, tánh-cách chủ-quan là tánh-cách tự mình qui-thuộc cho nó. Phương-pháp chủ-quan chính là phương-pháp thông dụng nhất của các họa-sĩ, của các thi-nhân; phương-pháp khách-quan mới là phương pháp độc-tôn của các nhà khoa-học.

Thanh-vận-học phải gồm có hai phần và phải dạy cho ta biết hai thứ quan-niệm:

Một là dạy cho ta biết thanh, vận là gì ;

Hai là dạy cho ta biết phải áp-dụng thanh vận thế nào.

Phần thứ nhất dạy về tánh-chất của thanh và của vận, ấy là phần khoa-học; phần thứ nhì dạy về phẩm-cách của thanh và của vận, ấy là phần văn-học.

Thế đủ rõ vì sao mà trong câu chuyện định vị-thử cho các dấu tiếng…, ông Trúc-Khê và tôi chưa thừa nhận ý-kiến của nhau. Tội thì chú-trọng về sự phát-âm, ông thì chú-trọng về sự thẩm-âm. Cùng khảo sát một vật mà kẻ đứng đằng này, người đứng đằng kia, làm sao mà khỏi có những cái so-le trong kết quả của sự khảo-sát ? 

Có lẽ, chỉ vì thế ấy, mà phải Ngô-Hưng, Thẩm-Uớc, Trần-Quận, Tạ Diểu, Châu Ngung dưới triều Vĩnh-minh, nước Tề, (479-502), đã liệt các tiếng dấu ngã vào thanh thưởng và các tiếng dấu sắc khự vào thanh khự

Thật thế! Bằng theo sự phát âm, chúng ta nhận thấy hai điều này:

1) Tiếng dấu ngã, tự khuôn ra, rồi xoáy-xoáy lên, tiếng dấu hỏi, tự khuôn ra, rồi xoáy-xoáy xuống.

2) Tiếng dấu sắc khự, tự khuôn ra, rồi ríu-rít xuống; tiếng dấu nặng khự, tự khuôn ra rồi trịu-trịu xuống.

Xoáy-xoáy lên và xoáy-xoáy xuống là hai cách động đậy giống nhau; cho nên người ta đã liệt các tiếng dấu ngã và dấu hỏi vào một loại thanh. Ríu-ríu xuống và trịu-trịu xuống cũng là hai cách động đậy giống nhau, cho nên người ta đã liệt các tiếng dấu sắc khự và dấu nặng khự vào một loại thanh khác. 

Lạ thật !. có người sẽ hỏi, nếu bằng theo sự thẩm-âm, thì phải đi với bả, phải đi với bạ; nghĩa là các tiếng dấu sắc khự với các tiếng dấu hỏi đồng một loại, các tiếng dấu ngã với các tiếng dấu nặng khự cũng đồng một loại; sao lại không theo cái thuyết mà ông Trúc-Khê cố ý chủ-trương ? Tôi xin thưa : không thể theo được ! Trong sự nghiên-cứu về một tiếng nói, vấn-đề thanh có phải là vấn đề độc nhất đâu !. Một tiếng nói gồm có ba nguyên-tố: khuôn, âmthanh (Các điều này, ai đã đọc quyển “Học tiếng Nam” của tôi, chắc đã hiểu một cách tinh -vi tường tất). Như bàn về khuôn, thì người ta nói: “Khuôn oang, hoang, khoáng; khuôn et chét, nghẹt ; khuôn eo méo xẹo; khuôn o trò. vo…”.

Khi bàn về âm thì người ta nói: “ Các âm d, g đều là âm họng; các âm n, tr… đều là âm lưỡi; các âm ch, x,.. đều là âm răng; các âm b, n… đều là âm mỗi”.

Thế là, khi bàn về khuôn và về âm, người ta đứng về phương-diện phát-âm. Cho nên, khi bàn về thanh là nguyên tố thứ ba của tiếng nói, người ta cũng phải đứng về một phương-diện ấy. Nếu đứng về phương-diện khác, về phương-diện thẩm-âm, thì – hiển nhân – kém phần nhất-trí: Nghị-luận mà không nhất-trí, thì mạch-lạc không được quán-triệt, nghĩa lý không được tinh thông, người viết khó kết-cấu thành đoạn, thành thiên, người đọc không thể nào lấy làm thỏa lòng mãn ý. Vì lẽ ấy, và nhất là vì lẽ ấy, tôi không thể nào tán thành được cái thuyết của ông Trúc-Khê, dầu thuyết ấy cũng là một cái thuyết mà, năm sáu năm về trước, tôi đã lăm le, ngắm nghé, muốn đề-nghị chủ-trường.

“Rõ-ràng, về phương-diện thẩm-âm, các tiếng đấu sắc-khự có phẩm-cách trong-trong như các tiếng dấu hỏi; và các tiếng dấu ngã lại có phẩm-cách đục-đục như các tiếng dấu nặng khự. Điều này từ xưa đến nay, đã được nhiều học-giá công nhận: Các tiếng dâu không, dấu hỏi dấu sắc khự, dấu sắc nhập đều là tiếng “thanh” bị các tiếng dấu huyền, dấu ngã dấu nặng khụ, dấu nặng nhập đều là tiếng “trọc”. Người ta phân-biệt ở “thanh” với “trọc” để chỉ-định các lệ phiên thiết là áp-dụng các thanh trong thi-ca.

Tưởng ông Trúc-Khê đã phỏng theo đó, cho khỏi  “ép duyên” , đã cho bán đi với bản, bãn đi với bạn. Sắp-đặt như vậy, mới xem qua, tợ-hồ rất hiệp-lý. Nhưng xét lại ông Trúc-Khê vẫn còn cho bạn đi với bàn, bát đi với bạt, sao ở đây ông lại đành lòng cho “thanh” lẫn với “trọc”, cho “trọc” lẫn với “thanh” ?. Nói tóm lại, cách chỉ định vị-thứ cho các thanh, theo ông Trúc-Khê, như là không điều-hòa, không trật-tự: “thanh trọc, thanh, thanh trọc trọc, thanh trọc !”. Tôi chắc rằng người xưa đã liệt 8 thanh ra 4 cặp, mỗi cặp có thanh trong. thanh đục, có trống, có mái, có dương, có âm… điều gì có hiệp dịch-lý mới xướng được các tinh-thần của người Á-đông.

?

Còn điều tập-quán kia, cũng không phải là điều mà ta có thể khinh thường miệt-thị. Chữ tập-quán đây có thể là một đồng-nghĩa của chữ thông-dụng. Các nhà ngữ-ngôn học thái-tây thường nói: “La question de langue est une question d’usage” Ý họ muốn nói: Vấn-đề ngữ-ngôn là một vấn-đề tập-quán, là một vấn-đề thông-dụng. Hay nói cách khác – nói nôm-na cho để nhở hơn: Câu chuyện nói-năng là câu chuyện “xài”. Ở xử Đại-Việt ta về phương diện thương-mại, một đôn-la bằng vàng của Mỹ chưa chắc đã dễ “xài” bằng một đồng tiền kẽm, bằng một trự xu kêu. Hơn nữa, nếu về miền thôn-quê mà mang đô-la theo đầy một va-ly chưa chắc đã xài được đồng nào !. Thành thử, về ngữ-ngôn tập-quán là một thế-lực, là một oai-quyền; có khi, nó đè nén được cả chân-lý: Là vì ngữ-ngôn là một cái công-cụ, là vì ngữ-ngôn chỉ có cái công: dụng ám-hiệu mà thôi. 

Nói tóm lại, trong sự đàm thuyết về ngữ ngôn, phải thừa nhận rằng tập-quán cũng có cái sức mạnh hơi tương đương với chân lý. Một luận thuyết mới lập có thể ví như một ngôi nhà mới xây; Phải có cơ sở, ngôi nhà mới được vững vàng, kiên-cố, phải có phiên-ly ngôi nhà mới được nghiêm mật, trang hoàng. Các luận thuyết về thanh của tôi đã lấy chân-lý làm cơ-sở, lại lấy tập-quán, làm phiên ly. Đã có lý, lại có thể, tôi chắc rằng nó sẽ được kiên-cố, vững vàng trang-hoàng, nghiêm-mật. Tuy nói đã bị vài phen canh cải, như mới phải đối “thượng” ra “thưởng” phải đối “khứ” ra “khự”, nhưng sự canh cải sơ-sơ như thể Ấy chưa có thể gọi là một sự biến hình.

TRẦN CẢNH HẢO

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Càng ông Trần Cảnh-Hảo về vấn-đề tứ-thanh, sau khi cùng ông Trần thảo-luận, tôi lại có một cuộc thảo-luận dài với ông Lệ Ngọc-Trụ, một nhà học ở Nam-kỳ. Cuộc thảo-luận sau đó, các bài của ông Lê thì đăng ở các báo Đông-dương, Nghệ thuật, Việt-nam, Bút – mới, còn các bài của tôi thì đăng ở các báo Phổ-thông bán-nguyệt-san Nước-nam. Cuộc thảo-luận sau: chúng tôi cũng làm nẩy ra được đôi điều có ích cho vấn-đề này. Vì vậy, ý-kiến của tôi hiện giờ có khác đôi chút với khi tạm rứt cuộc thảo luận cùng ông Trần Cảnh-Hảo. Tiếc rằng ông Trần hình như không biết có cuộc thảo-luận sau ấy, nên bài này ông viết, chỉ là viết tiếp vào cuộc thảo-luận trước thôi. Do vậy điểm chính trong bài này của ông cũng vẫn không trái thời. Sau khi đọc bài này, ý-kiến tôi vẫn không đổi thay. Muốn tiện trả lời ông, tôi xin ông đọc bài “Cũng để liễu-kết vấn-đề tứ-thanh” của tôi viết đăng trong Phổ-thông bán-nguyệt-san những số 90 và 91 xuất bản tháng 9 năm 1941.

TRÚC-KHÊ