Muốn dự một phần vào việc kỷ-niệm nhất chu niên của quyển Tri-Tân, tôi toan làm một bài về sự tiến-bộ trong việc chép sử nước ta từ ngày nước Pháp mới sang tới giờ.

Tôi định chia bài đã làm bốn đoạn. Đoạn thứ nhất nói về các sách làm trước tiên, như quyển Notes historiques sur la nation annamite của ông Le Grand de la Liraye in ở Sigon khoảng năm 1866, quyển Cours d’histoire annamlle của ông Trương-vĩnh Ký  ở Sài-gòn năm 1875-187.

Đoan thở bat n về các bài bổ-chính cho các cách trên, hoặc kê-cứu được điều hay việc lạ, như bài của ông L. Aarousseau, L. Cad’ère, H. Mastero Ch. B. Magbon, v. v. phần nhiều đăng trong Bulletin de l’Ecole tran-gaise d’Extrême-Orient và Bulletin des Amis du Vieux Hue.

Đoạn thứ ba nói về các sách phổ-thông viết bằng Pháp-văn hay quốc-văn theo các sách kể trong hai đoạn trên; nhiều quyển phổ-thông đã giúp được nhiều người học sử nước nhà.

Đoạn thứ tư nói về các sách có hại cho sử học vì sai nhầm nhiều quá, như một quyển soạn bằng tiếng Pháp, hiện đang dùng trong các trường công và đã được hội đồng duyệt sách duyệt y; ở trang 42 quyển sách đã có một câu nói rằng: “Vua Lê Thánh Tôn xùng nho, lập ra một viện hàn-lâm, với những nhà đại-văn-hào như Ngô-sĩ-Liên, Nguyễn Trãi, Nguyễn-bỉnh-Khiêm và Lê Quý-Đôn” (Le-thanh-Ton aimait les lettres Il créa une académie et s’entoura de grands écrivains tels que Ngô-sĩ-Liên Nguyễn-Trãi, Nguyễn-bỉnh-Khiêm, Lê quý-Đôn). Vua Lê-Thánh-Tôn trị vì từ năm (1460 đến năm 1497, thì với thế nào được Ông Nguyễn-bỉnh-Khiêm (1492-1587) đỗ về đời Mạc và ông Lê quý-Đôn đỗ về đời Cảnh hưng, năm 1752. Những sách viết cẩu thả như thế mà đem ra dạy học, thì thật hại cho học trò! 

Đại-ý bài tôi định viết thì chia ra như thế nhưng xét ra có nhiều điều nói không tiện, nên tôi lưu lại để dịp khác, nay chỉ lược qua về phép làm sử của sách nho đời xưa,

Người ta thường nói sử nho chép chẳng có phương pháp , những chuyện huyền hồ chép lẫn với những việc nhớn v.v… Thử lấy các bài tự bằng chữ nho ra xem sử ta ngày xưa chép theo cách thức thế nào. 

Ông Ngô-sĩ-Liên viết trong Đại-Việt sử-ký toàn-thư như sau này: “Hoàng thượng trung hưng (tức là Lê Thánh Tôn) xùng nho trọng đạo, kính pháp xét văn, vừa năm Quang-thuận (1460-1469) xuống chiếu tìm các dã-sử và các truyện-ký xưa nay người ta thường giữ, hết thảy cho dâng, lấy đủ tham khảo, lại sai nho-thần thảo-biên lần lượt”. Ông nói trên đầu bài tựa rằng: “Sự-tích thiếu về ghi chép, mà sự thực chỉ ở chuyền nghe, văn chương thiên về quái-gở, việc hoặc quên sót, đến nỗi đằng-tả mất thực, ghi-chép phồn-nhũng chỉ làm rối mắt, còn làm gương sao nổi?”.

Xem như thế thì từ thế-kỷ thở mười lăm những nhà làm sử nước ta cũng cố tìm sợ thực và gạt những chuyên hoang-đường ra. Thế thì làm sao trong những bộ sách mới soạn bằng chữ nho, như bộ Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, vẫn thấy chán những chuyện trâu qủy rắn thần không căn-cứ vào đâu cả ? 

Chỉ-dụ của vua Tự-đức chọn trong Việt-sử cương-mục nói là để “dĩ nghi truyền nghi”, nghĩa là đem việc ngờ nói lại chuyện ngờ, chứ “phàm sử chép là chép sự thực, đời đã xa thì việc khó xét, đời gần đây thì việc dễ tìm”. Lại một đạo dụ và năm Tự-đức, thứ tám 1855 nói rằng: “ Nước Việt ta từ Hồng bàng giở về sau, Trần, Lê, giở về trước, trong khoảng ấy vài nghìn năm, chính trị có khi được khi mất, nhân vật có người hiền người không bờ cõi thay đổi, chế-độ hưng suy: cựu sử chép nhiều chỗ thiếu hẳn; thể-tài lẫn lộn, nghĩa-lệ tai nhầm, cũng không phải là ít: học giả khảo cổ rất lấy làm phàn nàn!”.

Đọc những lời ấy cũng đủ rõ sử nho chép cũng có phương pháp. Cái phương pháp ấy như sau này:

1 “Việc nào thực thì chép, việc nào sai-ngoa thì đính-chính” (Việt-sử cương mục, quyển 1, tờ 10 b) 

2 Phàm việc nào sai-ngoa mà còn chép, là muốn để cho người sau khảo cứu lại: “dĩ nghi truyền nghi”.

3 “Việc được hay mất, cốt làm gương sáng và làm điều răn-dạy cho tương-lai”. (Lời Ngô-sĩ-Liên). Xét đời xưa làm sử có quan-hệ đến việc giám (làm gương) việc giới trấn (không nên theo), có ngụ ý việc khuyến (khuyên nên theo) việc trừng (răn nên chừa), nghĩa-là nên tinh mà xát-đáng, bút tước nên nghiêm mà công-bằng” (Việt sử cương-mục, quyển 1, tờ 9).

4.- Mốt và việc chép phụ đề tiên khảo-đính. Như Lê-Đại-Hành (980-1095) được nước tuy không đáng, nhưng mà đương lúc bấy giờ, bên ngoài thì chống với giặc mạnh, bên trong thì giữ vững bờ-cõi, cái dấu chính-thống đối với Tần Tùy cũng không khác gì: Tần Tùy vô-đạo mà sách Cương-mục Tàu cũng cho là chính-thống, đem ví với việc khả-quan thì Tiền Lê cũng không nên cho là tiếm-quốc. Vậy đời Tiền Lê nên theo lệ chính thống của Tần Tùy mà viết lớn cho hợp-lệ: (Việt-sử cương mục, quyển 1 tờ 10a).  

Đại-khái phép làm sử của nhà nho ngày xưa thì như thể, tưởng cũng có mẫu-mực, khuôn-phép, và cũng có tinh thần khoa-học. Bổn phận của phi làm sử ngày nay là phải theo đấy mà bổ-chính dần. Quyển Tri-Tân ra đời cốt để làm trọn cái bồn-phận ấy.

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn