Ngòi sử bút chân chính xưa, ta nhận thấy, có một tinh thần can đảm và hy sinh lạ lùng.

Vì tận tuỵ với chức – vụ, ngòi sử bút ấy đã hết sức phấn – đấu với bất cứ sức ngăn trở nào.

Vì thờ sự – thực, nó đã tỏ ra can đảm trước quyền – thế tuyệt – đối, uy – võ gớm – ghê…

Vì trọng danh dự, nó đã trung tín ôm – ấp chủ – nghĩa đến phút cuối cùng, vui lòng xông vào chỗ chết.

Những đức tính ấy, những tinh thần ấy ta còn thấy sống và động mãi trên trang tiểu sử các sử gia trứ danh.

Đổng Hồ một sử gia nước Tấn cứ thẳng thắn, cứ can đảm chép “Triệu Thuẫn giết vua!”, Cái lối chép sử không kiêng sợ không giấu diếm ấy đã được Khổng phu tử khen ngợi : “Đổng Hồ là tay lương lại đời xưa!”.

Hai anh em thái sử nước Tề chỉ vì thờ chân lý, trọng ngòi bút, không sợ sệt một quyền lực tối cao, cứ mạnh bạo chép trước lưỡi gươm của Thôi Trữ. Rút cục anh trước, em sau, cả hai đều bị họ Thôi giết chết chỉ vì dám chép cái tội của Thôi.

Trong bài Chính – khí ca, Văn Thiên Tường có viết: “Tại Tề, thái sử giản; tại Tấn, Đổng Hồ bút” (Ở nước Tề có thẻ của thái sử; ở nước Tấn có ngòi bút của Đổng Hồ): Chính là chỉ về hai chuyện trên đây.

Nói đến ngòi đại sử bút của Đông phương, người ta tất phải đặt Tư Mã Thiên (1) vào “chỗ ngồi danh dự”.

Được cha là Đàm trau dồi kích lệ, nối dòng nhà làm chức thái sử, Tư Mã Thiên hăng hái đi đường “soạn thuật”, không hề sợ gió bụi, ngại chông gai…

Sau, vì mắc nạn Lý Lăng (2), Thiên phải “hủ hinh” (Phải thiến), một thứ hình phạt rất nhục nhã, một cái không may lớn của người đời!

Càng âm thầm đau đớn, Thiên càng rán sức, gắng công, cố lập lấy sự nghiệp nghìn thu không nát.

Kể về sự nghiệp sử học, Tư Mã Thiên có thể đứng ngang hàng với Edouard Gibbon (3), Thomas Macaulay (4)và Augustin Thierry (5) mà không thẹn.

Sở dĩ hái được kết quả như kia chính vì Tư Mã Thiên đã dâng trọn mình làm hy sinh trên bàn thờ sử học.

Cái chết của anh em thái sử và Đổng Hồ đã bừng lên những hào quang chói loà, rực rỡ.

Cái sống đau đớn mà nhẫn nại của Tư Mã Thiên đã được nảy bông thơm tho trái ngon ngọt.

Người xưa đã cung cúc tận tuỵ với chức vụ thiêng liêng…

  1. Tư Mã Thiên, (chữ Hán: 司馬遷; 145 TCN86 TCN), tên tự là Tử Trường (子長), là tác giả bộ Sử ký; với bộ sử đó, ông được tôn là Sử Thiên (史遷), một trong Mười vị thánh trong lịch sử Trung Quốc. Do ông làm chức “Thái sử lệnh” (太史令) đời nhà Hán, nên gọi Thái Sử Công (太史公).
  2. Lý Lăng, tên tự là Thiếu Khanh người Thành Kỳ đời Hán, được phong Kỵ đô uý dưới triều Hán Vũ Đế, Lăng tự đem 5000 quân bộ kỵ, tổ chức làm một đội, đi đánh Hung Nô. Lăng kiệt sức, phải xuống hàng giặc. Hán Vũ giận lắm. Song Tư Mã Thiên cứ quả quyết với vua Hán rằng Lý Lăng là người trung thành, không khi nào chịu phản quốc, chẳng qua vì tình thế bắt buộc đó thôi. Vì vậy, Thiên bị khép vào hủ hinh !
  3. Nhà sử học Anh (1737 – 1796), tác giả “The History of the Decline and Fall of the Roman Empire”
  4. Sử gia kiêm chính khách Anh (1800 – 1859), Tác phẩm của ông là Hístoire d’An – gleterre và Essais historiques et biographi – ques, v.v
  5. Nhà sử học Pháp (1795 – 1856), có viết những sách như Récits me’rovingiens, Essai sur le Tiers État, v.v

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn