Nhiều người dân Hoa Kỳ lo lắng về tình trạng kiểm duyệt ngày càng gia tăng; trong khi đó những người chịu trách nhiệm về việc này lại góp phần khuếch đại bầu không khí căng thẳng bằng việc tạo thêm sự tự kiểm duyệt.

Chiến thuật tự kiểm duyệt của cộng sản đang càn quét khắp Hoa Kỳ
Quốc kỳ Mỹ tại Sân vận động Davis Wade ở thành phố Starkville, Mississippi, vào ngày 01/09/2018. (Ảnh: Jonathan Bachman/Getty Images)

Một tài khoản bị khóa, một video bị xóa, hay một cuốn sách bị cấm có thể gây ra tâm lý tự kiểm duyệt và tình trạng e dè về ngôn luận trên diện rộng. Không còn thấy các cuộc tranh luận về chính sách quan trọng, các ý tưởng về tin tức không còn được kể cho các biên tập viên, các đầu sách không được chấp thuận để xuất bản, hoặc thậm chí còn không được chấp bút.

Trong một số tình huống, có vẻ như các bên kiểm duyệt sử dụng các thủ thuật tâm lý một cách có chủ đích, nhằm đạt được kết quả đàn áp tối đa với trách nhiệm tối thiểu. Những phương thức này không phải là mới – trên thực tế, chúng đã được các chế độ độc tài toàn trị áp dụng từ lâu.

Nguyên tắc của việc tự kiểm duyệt là mọi người, vì để được an toàn, không nói cả những điều hoàn toàn không bị cấm.

Dưới đây là một số phương thức được sử dụng để tăng tính tự kiểm duyệt.

Những quy định mơ hồ

Trung Cộng, thể chế kiểm duyệt tự do ngôn luận khét tiếng nhất thế giới, trong nhiều thập kỷ đã sử dụng phương pháp cố tình làm các chính sách của mình mơ hồ một cách có chủ ý. Ví dụ, suốt các cuộc vận động chính trị của đảng này trong quá khứ, ban lãnh đạo trung ương sẽ ban hành một sắc lệnh trừng trị “những kẻ theo cánh hữu” và “những kẻ phản cách mạng”. Các quan chức đảng ở cấp dưới kế tiếp sẽ không được cho biết chính xác điều gì khiến một người trở thành “cánh hữu” hay “phản cách mạng” và thậm chí có lẽ còn không biết hình phạt là gì. Tuy nhiên, không một quan chức nào muốn bị coi là quá nhân từ – điều đó sẽ đem đến nguy cơ chính họ bị dán cái nhãn mà họ không muốn. Kết quả là hệ thống bộ máy quan liêu tự diễn giải sắc lệnh này, trong nhiều trường hợp là rất cực đoan. Trong một số thời kỳ, tình trạng cuồng loạn đã vượt xa việc tự kiểm duyệt, như thể chỉ kiềm chế ngôn luận chính trị thôi vẫn là chưa đủ.

“Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa… mọi người không thể mua thức ăn tại căng-tin nếu họ không đọc thuộc lòng một câu nói hoặc hoan hô Mao Trạch Đông. Khi đi mua sắm, đi xe buýt, hoặc thậm chí gọi điện thoại, người ta phải đọc thuộc lòng một trong những câu nói của Mao, ngay cả khi câu nói đó hoàn toàn chẳng liên quan gì. Trong những nghi lễ thờ cúng này, người  ta hoặc cuồng tín hoặc là hoài nghi,” trích từ cuốn sách  “Chín bài Bình luận về Đảng Cộng sản.”

Ở Trung Quốc đương đại, những người bất đồng chính kiến thường bị nhắm tới với tội danh “lật đổ nhà nước” hoặc “tung tin đồn”. Nhà cầm quyền này đã chứng minh rằng thực ra bất kỳ tuyên bố chính trị nào cũng có thể bị liệt vào một trong số các cáo buộc này.

Phương thức này dường như cũng đang được áp dụng ở Hoa Kỳ đương đại.

Amazon gần đây đã cập nhật các chính sách của họ để cấm những cuốn sách có chứa “ngôn từ thù địch” mà không giải thích cụ thể. Vì Amazon kiểm soát hơn 80% thị trường bán lẻ sách, các nhà xuất bản rơi vào tình cảnh phải tiên liệu việc cuốn sách có thể bị gắn mác “ngôn từ thù địch” hay để tránh thiệt hại về doanh số.

Ông Roger Kimball, chủ biên của Encounter Books và là cộng tác viên của The Epoch Times, nói rằng cho đến nay ông vẫn chưa xem xét việc tránh những tựa đề sách có thể bị Amazon nhắm tới, nhưng ông gọi đó là “một tín hiệu rất đáng lo ngại.”

Ông đưa ra ví dụ về Simon & Schuster, một nhà xuất bản đầy quyền lực gần đây đã hủy xuất bản cuốn sách của Thượng nghị sĩ Josh Hawley (Cộng Hòa–Missouri), bởi vì ông Hawley đã đặt nghi vấn về tính liêm chính của cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Nếu các nhà xuất bản chịu khuất phục trước Amazon, thì các tác giả thậm chí còn có thể tiến xa hơn thế, tránh hết thảy những chủ đề có thể khiến các nhà xuất bản sợ hãi.

Các nền tảng công nghệ khác như Facebook, YouTube, và Twitter thường đưa ra một số định nghĩa về ngôn từ thù địch và các quy tắc nội dung khác, nhưng đã thừa nhận rằng họ cố ý giữ bí mật ít nhất một phần chính sách của mình để ngăn người ta phá vỡ chúng. Hậu quả là người dùng cố gắng tự mình đoán ranh giới của việc kiểm duyệt là gì.

Những ai đã bỏ rất nhiều công để xây dựng cơ sở fan hâm mộ trực tuyến sẽ áp dụng chế độ tự kiểm duyệt đặc biệt nghiêm ngặt vì họ có nhiều thứ để mất nhất. Ví dụ: YouTube cấm bất kỳ nội dung nào nói rằng kết quả bầu cử năm 2020 bị ảnh hưởng bởi gian lận. Chính sách này có vẻ tương đối rõ ràng, nhưng dường như nó đã khuyến khích các nhân vật của YouTube tránh hoàn toàn chủ đề về tính liêm chính của cuộc bầu cử, chỉ để được an toàn.

Có tội vì liên đới

Một cách khác để áp đặt sự tự kiểm duyệt là đổ lỗi cho bất kỳ ai thậm chí rất ít liên quan, vượt cả ra ngoài đối tượng mục tiêu.

Các chế độ độc tài toàn trị từ lâu đã sử dụng chiến thuật này, trừng phạt gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người giám sát và các cộng sự khác của những người bất đồng chính kiến.

Ngày nay, những ví dụ về việc có tội vì liên đới tương đối phổ biến. Các phương tiện truyền thông, các trường đại học và các tổ chức sẵn lòng tổ chức sự kiện cho diễn giả thuộc một phe chính trị khác, sẽ bị chỉ trích vì đã “tạo ra một sân chơi” cho “sự thù ghét” hoặc một số sự phẫn nộ khác. Bất kỳ ai thốt ra lời ủng hộ cho một trong những đối tượng bị kiểm duyệt đều có thể là mục tiêu tiếp theo.

Bà Jodi Shaw, cựu điều phối viên hỗ trợ sinh viên tại Smith College, một trường đại học dành cho phụ nữ ưu tú, gần đây đã rời bỏ công việc của mình vì những gì bà mô tả là một môi trường “làm mất nhân tính.”

Bà Shaw nói với The Epoch Times trong một cuộc điện thoại rằng, vào năm 2018, viện nghệ thuật tự do đã đưa ra một số sáng kiến để chống lại “nạn phân biệt chủng tộc có hệ thống” tại trường học này. Tuy nhiên, bà đã không đồng ý với những giải pháp đó. Bà đã được hướng dẫn đối xử với mọi người khác nhau dựa trên chủng tộc và giới tính của họ, trong thực tế, điều này có nghĩa là áp đặt định kiến của riêng mình lên người khác, bà cho biết.

Khi bà Shaw bắt đầu nói về những lo lắng của mình một cách công khai, thì bà nhận thấy rằng các nhân viên của trường Smith, những người đã có cùng mối lo với bà đột nhiên trở nên không sẵn lòng tiếp xúc với bà.

“Nỗi sợ hãi bị buộc tội vì liên đới kinh khủng đến nỗi mọi người – họ thậm chí còn không nhắn tin cho tôi”, bà nói.

Điều đó không chỉ tạo nên tình trạng tự kiểm duyệt trong không gian quan hệ của một người mà còn khiến mục tiêu trở nên bị cô lập hơn nữa.

“Quý vị bị cô lập và quý vị không thể nói chuyện đó với ai khác và xác định rằng, vâng, thực sự là có điều gì đó không ổn,” bà Shaw cho biết.

Bà Kari Lake, cựu phát thanh viên tại Fox 10 ở Arizona, đã phải đối mặt với những lời chỉ trích chỉ vì thiết lập một tài khoản trên các trang mạng xã hội thay thế như Parler và Gab. Những người chỉ trích lập luận rằng bà ấy có tội liên đới bởi vì Parler và Gab đã bị coi là một nền tảng yêu thích của “Đức Quốc xã.”

Bà Lake đã nói với The Epoch Times trong một cuộc điện thoại, rằng mặc dù các cuộc tấn công không bao giờ khiến bà nghi ngờ về niềm tin của mình, nhưng nó đã khiến bà phải tự kiểm duyệt.

“Trên thực tế tôi thấy mình không còn đăng những câu chuyện vốn chỉ toàn là sự thật bởi vì tôi  giống như, ‘Ồ, đăng những câu chuyện đó, dù đó là sự thật, có thể khiến một số người tức giận. Nó có thể chỉ khiến cho những người cánh tả phát điên và tôi không muốn đá vào tổ ong bắp cày, quý vị biết đấy,’” bà cho biết.

Điều đặc biệt khiến bà Lake nản lòng là khi thấy sự kiểm duyệt này được nhiều đồng nghiệp nhà báo tán thành.

Bà muốn thấy sự đa dạng hơn về quan điểm giữa các ký giả, bà tin rằng hầu hết các thành viên trong nghề này đều là thiên tả. Ngay cả một số thành viên bảo thủ mà bà biết cũng “rất, rất kín tiếng về vấn đề này,” bà nói.

Cách đây vài tuần, bà Lake đã bỏ việc.

Bà nói: “Tôi đã nhận ra, tôi là một phần của vấn đề này. Tôi là một phần của hệ thống này. Tôi là một phần của giới truyền thông và nếu tôi không thích nó và tôi không thể làm gì để thay đổi nó, thì tôi cần phải thoát ra.”

Giải pháp

Kiểm duyệt ở Hoa Kỳ về hình thức rất đặc biệt vì nó phần lớn không phải là do chính phủ tiến hành. Sự kiểm duyệt này thậm chí không nhất thiết là kết quả của áp lực từ chính phủ, mặc dù điều đó dường như cũng đang diễn ra. Thay vào đó, nó dựa trên các tác nhân cả trong và ngoài chính phủ trên toàn xã hội Hoa Kỳ gắn với một hệ tư tưởng độc tài từ tận gốc rễ của nó.

Người dân Hoa Kỳ khó có thể dựa vào bất cứ ai chống lại hệ tư tưởng này từ trên xuống. Trên thực tế, hệ tư tưởng này dường như được đa số chính phủ tán thành.

Tuy nhiên, có thể các phương sách của chính phủ sẽ không đưa ra giải pháp nếu một phần đông dân số vẫn theo đuổi ý thức hệ này hoặc sẵn sàng chấp nhận nó.

Như Thẩm phán Learned Hand đã nói trong bài diễn văn “Tinh thần Tự do” của mình vào năm 1944 rằng: 

“Tự do nằm trong trái tim của mỗi người; nếu ở đó mà nó chết đi, thì không có hiến pháp, luật pháp, tòa án nào còn có thể làm được gì để giúp nó.”

Có vẻ như lập trường của người dân Hoa Kỳ giờ đây là phải thắp lại ngọn lửa tự do đó trong trái tim đồng bào mình.

Petr Svab
Nguyễn Lê biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn