Tính đến ngày 20/05/2021, số ca tử vong do virus Trung Cộng ở Hoa Kỳ là  593,419. Cũng có một con số thống kê khác là 601,969. Thời báo New York Times đưa tin là 587,499. Sự khác biệt giữa các số thống kê này là không lớn; nhưng tính chất của con số thì rất đáng để xem xét.

Một nhà hoạt động trưng bày một bào thai bằng cao su tại chủ đề “Tháng ba của gia đình” trong khuôn khổ hội nghị Đại hội Gia đình Thế giới (WCF) hôm 31.03/2019 tại Verona. (Ảnh: Filippo Monteforte/AFP/Getty Images)

Mặc dù có nhiều băn khoăn về sự khác biệt trong tỷ lệ tử vong của các chủng tộc hoặc sắc tộc khác nhau, thường được cho là do “phân biệt chủng tộc có tính hệ thống”, trên thực tế, số người tử vong trên tỷ lệ phần trăm dân số lại khá tương đồng. Cụ thể về số liệu: 60.1% người da trắng trong tổng dân số có 60.7% số ca tử vong; 18.5% người gốc Tây Ban Nha có 18.6% số ca tử vong; 13.4% người Mỹ gốc Phi châu có 14.8% số ca tử vong; và 5.9% người Á Châu trong dân số có 3.9% số ca tử vong. 

Nếu sự giàu có và nghèo đói là số cố định, thì sự khác biệt giữa các chủng tộc ít nhiều sẽ biến mất.

Có một tỷ lệ tử vong chênh lệch đáng kể liên quan đến giới tính. Nam giới chiếm 314,875 ca tử vong, so với 259,170 ca tử vong là nữ giới. Cho đến nay, chúng tôi chưa nghe thấy lời cáo buộc nào về “phân biệt giới tính có hệ thống”; bởi vì, quý vị biết đấy, “tương lai thuộc về phụ nữ”.

Số người tử vong do COVID-19 có lẽ đã bị phóng đại. Tiêu chuẩn để tính đếm một ca tử vong do COVID-19 là bất kỳ trường hợp tử vong nào có sự hiện diện của COVID-19, cho dù các bệnh nền khác cũng góp phần hoặc thậm chí là yếu tố quyết định tử vong. Trong một vài trường hợp, ít nhất, các ca tử vong do tai nạn được liệt kê là tử vong do COVID-19 vì nạn nhân có một số bằng chứng nhiễm COVID-19. Chúng tôi cũng biết rằng có động cơ chính trị để phóng đại số ca tử vong do COVID-19; một nhân viên của CNN đã khoe khoang về việc hãng này sử dụng số ca tử vong do COVID-19 cho mục đích xếp hạng và tạo ra sự sợ hãi.

Nhưng ngay cả khi số tử vong do COVID-19 ít hơn, ngay cả khi ghi nhận sai 20% số ca tử vong, thì con số nửa triệu người Mỹ tử vong cũng là một thảm kịch và rất đau lòng. Điều kinh hoàng chủ yếu là sự phơi nhiễm và tử vong của nhiều người cao tuổi tại các viện dưỡng lão, ít nhất một phần do sự lơ là và kém năng lực của các quan chức công quyền. Thống đốc New York thậm chí còn cố gắng che giấu số liệu tử vong trong viện dưỡng lão.

Tổng số ca tử vong do COVID-19 được lưu ý khi xem xét đến số ca tử vong trung bình hàng năm của người dân Hoa Kỳ, từ 2.8 triệu đến 3 triệu/năm. Những con số vượt quá con số đó được xác định là “số ca tử vong vượt mức”. CDC cho rằng 383,979 trường hợp tử vong trong năm 2020 là do COVID-19. Theo một nghiên cứu trên Tạp chí Y khoa Anh Quốc, số ca tử vong vượt mức cao hơn tỷ lệ tử vong bình thường vào năm 2020 là 458,000, cao hơn đáng kể so với những năm 2018 và 2019 trước đó, nhưng cũng tương đương với 401,000 ca tử vong vượt mức vào năm 2017, do bệnh cúm nghiêm trọng trong năm đó. Tuy nhiên, năm 2017 không có tình trạng phong tỏa, không buộc phải đóng cửa trường học và doanh nghiệp, không có hạn chế đi lại và không có yêu cầu đeo khẩu trang.

Theo một bài báo gần đây trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia [Hoa Kỳ]:

“Sự so sánh [giữa năm 2020 và năm 2017] gây ấn tượng hơn khi sử dụng thước đo ‘số năm tuổi thọ bị mất đi’. Goldstein và Lee (11) ước tính rằng số năm sống bị mất đi trung bình đối của một người tử vong vì COVID-19 ở Hoa Kỳ là 11.7 năm. Nhân 377,000 người tử vong với 11.7 năm, tổng số năm sống bị mất đi do COVID-19 là 4.41 triệu năm, chỉ bằng một phần ba trong số 13.02 triệu năm sống bị mất đi đối với tỷ lệ tử vong quá mức ở Hoa Kỳ vào năm 2017. Lý do mà sự so sánh giữa [số năm sống bị mất đi] sắc nét hơn nhiều so với số ca tử vong quá mức là do số ca tử vong do COVID-19 vào năm 2020 trung bình xảy ra ở người già nhiều hơn so với số ca tử vong quá mức vào năm 2017.”

Cách tính này thậm chí còn không tính đến hàng chục ngàn, có lẽ nhiều hơn, tổng số ca tử vong không phải do COVID-19 mà là do các lệnh phong tỏa. Sử dụng thuốc quá liều, tự tử, và bạo lực gia đình là hậu quả của các đợt phong tỏa.

Một con số tử vong khác 

Hàng năm, hơn một triệu trẻ em Hoa Kỳ đã không được chào đời. Các số liệu từ Viện Guttmacher là 874,100 ca phá thai tại Hoa Kỳ trong năm 2016 và 862,300 ca phá thai trong năm 2017. Viện Guttmacher thu thập trực tiếp số liệu thống kê từ các nhà cung cấp dịch vụ phá thai. (Con số của CDC thấp hơn khoảng 200,000 do New Hampshire, Maryland, và California không gửi số liệu thống kê.)

Theo tỷ lệ phần trăm tương đối trong các số liệu (chưa đánh giá đúng mức) từ CDC, các ca nạo phá thai theo chủng tộc và dân tộc trong năm 2018 như sau:

  • Phụ nữ da trắng không phải gốc Tây Ban Nha: ước tính có 239,782 ca phá thai
  • Phụ nữ Mỹ gốc Phi Châu: ước tính có 208,183 ca phá thai
  • Phụ nữ gốc Tây Ban Nha: ước tính có 123,918 ca phá thai
  • Phụ nữ khác: ước tính 47,709 ca phá thai

Những con số này cho thấy phụ nữ Mỹ gốc Phi Châu, với 13% tổng dân số nữ lại chiếm 34% số ca nạo phá thai; trong khi phụ nữ da trắng với 60% dân số nữ chỉ chiếm 39% số ca nạo phá thai; phụ nữ gốc Tây Ban Nha, với 18.5% dân số nữ chiếm 20% số ca nạo phá thai.

Tỷ lệ phá thai trẻ sơ sinh Mỹ gốc Phi Châu cao hơn gần ba lần tỷ lệ dân số người Mỹ gốc Phi châu; đó là lý do tại sao tỷ lệ người Mỹ gốc Phi Châu thấp dần trong những năm qua. Tỷ lệ phá thai trẻ sơ sinh gốc Tây Ban Nha phù hợp với tỷ lệ phần trăm dân số người gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ phá thai trẻ sơ sinh da trắng và các chủng tộc khác thấp hơn nhiều so với tỷ lệ phần trăm dân số của họ. Đây là một lý do khiến tỷ lệ dân số người da trắng không giảm.

Số lượng trẻ sơ sinh Hoa Kỳ bị kết thúc sinh mệnh khi còn trong bụng mẹ (hoặc sau khi sinh) không nói lên toàn bộ câu chuyện. Nếu chúng ta coi “số năm sống bị mất” được tính trên cơ sở tuổi thọ của người Mỹ – 81 đối với nữ, 77 đối với nam, trung bình là 79 – thì 862,300 ca nạo phá thai năm 2017 sẽ mất đi 68,121,700 năm sống. Sáu mươi tám triệu năm sống của người Mỹ đã bị tước đoạt!

Sinh suất ở Hoa Kỳ đã giảm qua các năm. Năm 2019, tỷ lệ này là 1.7, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ thay thế là 2.1. Ở nhiều nơi trên thế giới, sinh suất đã giảm, ở Canada là 1.5; ở Anh 1.6; ở Trinidad 1.7; Thái Lan 1.5; Thụy Điển 1.7; Thụy Sĩ 1.5; Tây Ban Nha 1.2; Cộng hòa Slovakia 1.6; Singapore 1.1; Serbia 1.5; Puerto Rico 1.0. Điều này dường như xảy ra khi quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa gia tăng. Trẻ em không còn cần thiết cho việc sản xuất của gia đình, và trở thành gánh nặng tài chính cũng như “những đứa con cưng” hơn là những người lao động.

Tại Hoa Kỳ và những nơi khác, xu hướng xa rời tôn giáo và sự suy tàn của các nhà thờ dòng chính đã góp phần vào sự suy giảm này, vì các tập tục từng bị cấm giờ không chỉ được chấp nhận mà còn được tôn vinh. Đối với khoảng một nửa dân số Hoa Kỳ thì kết thúc sinh mệnh con của họ là một trong những mục tiêu chính sách và giá trị [vật chất] cao nhất. Đây một phần là hệ quả của cuộc cách mạng tình dục cho phép mọi người quan hệ một cách vô trách nhiệm, và cuộc cách mạng nữ quyền phỉ báng quyền làm mẹ, xem đó là tình trạng nô lệ hóa phụ nữ. Một nửa dân số Hoa Kỳ còn lại thì không hài lòng [đối với việc phá thai]. 

Trong số những người Mỹ gốc Phi Châu, những người phá thai với tỷ lệ gấp ba lần tỷ lệ phần trăm dân số của họ, phụ nữ không được khuyến khích mang thai đến đủ tháng. Một lý do chính là đàn ông Mỹ gốc Phi châu không sẵn lòng làm chồng và làm cha; hậu quả là số gia đình có đủ cha mẹ ít dần, và những thiệt thòi về tài chính cùng những bất lợi khác đến từ các gia đình chỉ có cha hoặc mẹ đơn thân.

Người Mỹ chúng ta hủy đi sinh mệnh gần một triệu trẻ sơ sinh hàng năm. Chúng ta là loại người nào vậy? 

Tác giả Philip Carl Salzman là giáo sư danh dự về nhân chủng học tại Đại học McGill, thành viên cao cấp tại Trung tâm Tiền phương về Chính sách Cộng đồng, thành viên tại Diễn đàn Trung Đông, và là chủ tịch của tổ chức Các Học giả vì Hòa bình ở Trung Đông.

Do Philip Carl Salzman thực hiện
Thu Ngân biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn