Hàng năm, cứ đến ngày mồng năm tháng hai ta, hội đền Hai Bà ở làng Đồng-nhân (gần nhà Rượu ở gần phố Armand Rousseau, Hanoi) lại nhắc nhở chúng ta nhớ đến một đoạn lịch-sử oanh-liệt do những bàn tay phi-thường đã đánh dấu bằng can-đảm, bằng trung-dũng và bằng trọn-vẹn hi-sinh của hai vị quán thế nữ anh-hùng Nam-việt: Trưng Chắc (1) và Trưng Nhì (2).

Hân hạnh được ở gần, tôi đã nhiều lần đi chiêm-bái nơi kỷ-niệm có tính-cách lịch-sử ấy. Để hiến các bạn ở xa mấy tấm “ảnh tỉnh-thần” về đền Hai Bà dưới cặp mắt tôi, nay xin cầm bút ghi lại những cái đã thấy hoặc đã khảo được:  

Đền cũ làm từ năm Đại-định thứ ba (1142) đời vua Lý Anh Tông. Về sau, từ ngoài bãi sông dời vào trong làng, rồi sửa chữa lại có đến mấy lần. Cứ như chỗ chúng tôi đã kê-cứu, thì mấy lần tu-bổ có lẽ đã làm cho đền Hai Bà dần dần trút hết lốt cũ, mà mặc tuyền đồ mới: 

Một lần vào năm Gia-long thứ mười một (1812); Một lần vào năm Tự-đức nguyên niên (1848); Một lần vào năm Thành-thái năm (1893); Và một lần mới đây nhằm năm Khải-định thứ bảy, 1921.

Từ lối bờ ao đi vào, thấy sừng-sững hai cây cột trụ cao ngất dường làm tiêu biểu cho cái tinh-thần hùng-vĩ của hai đấng anh-thư, ta đọc ngay được những nét các cụ xưa đã mai mỉa Ma-Viện bằng một vế câu đối này:  “Sơn tiêu đồng trụ tương an tại !” Nghĩa; Chỗ núi nêu cái cột đồng của Mã-Văn-Uyên (tên tự Mã-viện) nay còn đâu nữa ! 

Phải, cột đồng ấy, nay còn đâu nữa, chỉ thấy cây đa xum-xê bát-ngát đứng giữa sân đền, dưới cành lá xanh-tươi nó đã từng rủ khí đầm-ấm trong mùa xuân, tỏa bóng rợp mát trong mùa hè cho những ai đã từng lối này lại tới, khiến họ có cái cảm-giác êm-đềm dễ chịu như được vỗ-về ấp-ủ dưới “cánh” hồn thiêng.

Nhìn lên đường bờ trên nóc mái ngói đã cũ, kia, chiếc “mặt nguyệt” rực đỏ óng-ánh ở giữa hai con rồng chần: đó là bầu nhiệt-huyết của hai vị nữ anh hùng hay là hào-quang bất diệt của những nữ chiến-sĩ đã tử quốc ?

Các bạn, sau khi ngưỡng mộ hai bà qua những vật tượng-trưng ấy, hãy nhích ra phía tả (kể từ cổng đền vào), sẽ thấy một con rùa đá, mỏ đã sứt, da đã nhẵn, trơ-vợ ở bên vườn.

Cứ như người ta nói, chính nó đã mang một tấm bia lịch-sử rất đáng chú ý, mà nay nó được hoàn-toàn giải phóng vì bia đã dời vào trong đền.

Vâng, được, tôi xin làm đầy-đủ công việc một người giới-thiệu. Như các bạn đã thấy, bài bia ấy, toàn văn bằng chữ hán, đăng ở giữa hai trang báo đây; còn âm và nghĩa thì tôi xin phiên dịch như dưới: 

Vũ trụ gian kỳ sự-nghiệp đa xuất ư đại-trượng-phu. Dĩ nữ-lưu nhi tố đắc kỳ sự-nghiệp giả bất diệc nữ trượng-phu hồ ?. Thị vưu khả thư dã. 

Cung duy: Trưng-vương lưỡng vị, Phong châu nhân, Lạc tướng kỳ phụ, Hùng-vương kỳ tổ, ngữ gia-thế dĩ phi tầm thường tỉ. Huống phù dĩ băng ngọc chi tư, phụ tang bồng chi chi, kỳ uẩn bão hựu bất phàm hĩ. Đại đoạn thi-thiết tương bất  tại ư tự hồ? 

Tổ tự Văn-lang trung phấn, cương-cực dĩ qui ư Thục, Triệu cập Lưỡng Hán giả sổ bách niên !  Trụng dĩ thái-thú Tô-Định ngược diễm phần khung ! Lưỡng vương, nhất vị kỳ phu, nhất vị kỳ tỉ, hách nhiên chấn nộ, phấn khởi nghĩa sư. Dĩ trâm-nhĩ nhi cung nhung phục, dĩ trang-liêm nhi sự can-qua, bất số nguyệt gian, lược định Lĩnh-biểu ngữ thập lục thành chi địa, kiến quốc, xung cương, đô vu Mi-linh, Thử phi kỳ sự-nghiệp nhi hà ?

Chi nhược thoái bảo vu Cấm khê, tuẫn tiết vu Hát-giang: thiên dã, khởi khả dĩ thành bại luận tai?  Nhiên quan kỳ khâm-độ, kỳ mưu-lược, kỳ tiết-tháo, chân bất thiểm thần-minh chi trụ dã.

Một hậu, hữu hóa thạch chân thân lưỡng tọa hiển linh vu Nhị-hà giang phận. Lý Anh-Tông, Đại-định tam niên, mệnh tu Thanh-tri huyên, Đồng-nhân châu, lập từ dĩ tự chi, nẫm trứ linh-ứng. Lịch đại lũy hữu phong tặng.

Phụng Hoàng-triều điển lễ cơ long, tích chi sắc mệnh. Thượng niên, dĩ cựu từ ngẫu nhân hà dĩ, khâm mông chỉ chuẩn di kỳ từ vu Thọ-xương huyện, Hương-viên thôn, tỉ dân xã phụng tự. Ức niên hương hỏa, tương dữ thiên địa nhi vô cùng hĩ.

Tư nhân trùng tu từ sở, kính thuật kỳ sự-tích chi đại lược, lặc chi trình dân dĩ thọ ký truyền vân. Hậu-quân Đô-thống-phủ Đô-thống lĩnh Hà Ninh tổng-đốc Vũ Khê-Tử Tôn Thất-Bật cung ký.  Hoàng-triều Tự-Đức vạn vạn niên chi nguyên-niên, mạnh hạ nguyệt, cát nhật. Hưng-yên cử-nhân hiện thụ Hà-nội Đốc-học, Dương Duy Thanh cung soạn.

Dịch nghĩa

“Trong vòng vũ-trụ, sự nghiệp lạ phần nhiều ra từ những tay đại trượng-phu.. Kể phận gái mà làm nên sự nghiệp lạ, chẳng cũng là bậc nữ trượng-phu ư ? Thế lại càng đáng ghi chép lắm 

Nhớ hai bà Trưng: người châu Phong cha làm Lạc-tướng (3), tổ là Hùng-vương. Kể dòng-dõi, đã không phải là hạng tầm thường vi được. Huống chi hai Bà đem tấm thân ngọc trắng giá trong, ôm cái chí cung dâu tên cỏ, thì hoài bão ấy lại không phải vừa. Thủ đoạn làm việc lớn-lao chẳng ở đấy thì ở đâu nữa ?

Kể từ khi nước Văn-lang nửa vời sụp đổ, bờ cõi mất về Thục, Triệu Đà Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) đã đến vài trăm năm. Thêm nỗi ngọn lửa bạo ngược của Tô-định lại lưng trời ngùn-ngụt bốc !

Hai Bà, vợ vì chồng, em vì chị, phừng-phừng nổi giận, vùng dấy nghĩa binh, ném trâm thoa mà mặc nhung-phục, nhãng gương lược mà cầm can qua, không đầy vài tháng trời đã được định được đất năm mươi sáu thánh ở ngoài Ngũ-Lĩnh, dựng nước, xưng vương, đóng đô ở Mi-linh: chẳng phải sự-nghiệp lạ là gì đấy ? 

Đến như hai Bà phải lui giữ ở Cẩm-khê, rồi tuẫn tiết ở Hát-giang: cũng là bởi trời, chứ há nên bình-luận anh-hùng theo thành hay bại ? Nhưng xét đến gan-dạ kia mưu lược kia và tiết-tháo kia, thì hai Ba thật không thẹn là dòng-dõi thần minh vậy. Sau khi mất, chân thân hai Bà hóa thành hai pho tượng đá, hiển linh ở phần sông Nhị.

Nam Đại-định thư ba (1142), vua Lý Anh-tông sai lập đền ở bãi Đồng-nhân huyện Thanh-trì để thờ hai Bà, rất linh-ứng. Các triều-đại đều có sắc phong.  Hoàng-triều ta rất long-thịnh về mặt điển-lễ, đã phong sắc rồi.

Năm trước, chỗ đền cũ hư hỏng vì nỗi sông lở cát bay, đã được chỉ-dụ nhà-vua cho dời vào xóm Hương-viên, huyện Thọ-xương để dân xã thờ-phụng. Nghìn thu hương lửa, dằng-dặc với trời đất không cùng…  

Nay nhân sửa đền lại, tôi xin kính thuật sơ qua sự tích hai Bà để khắc vào để truyền lâu-dài.  Hậu-quân Đô-thống-phủ Độ  thống lĩnh Hà Ninh Tổng-đốc Vũ Khê-tử Tôn-thất Bật kính ghi.

Ngày tốt-lành, tháng đầu mùa hè (tức tháng tư) năm thứ nhất trong vạn vạn năm niên hiệu Tự-Đức (tức năm 1848) ở triều vua ta. Cử-nhân tỉnh Hưng-yên hiện làm Đốc-học Hà-nội Dương-Duy Thanh kính soạn. (4)”

Sau khi đọc hết bài bia của cụ Đốc Dương rồi, tôi cũng muốn giới thiệu thêm với các bạn một ít thơ và cân đối ở trong đền nữa, nhưng e làm mất nhiều thì giờ của các bạn, nên tôi cần rút ngắn câu chuyện để mau đi đến một truyền-thuyết nghe cũng hay hay:

Các bạn vào tới bái-đường này, có ai để ý đến hai đôi ngà voi gắn vào hai thớt voi thờ đấy không ? . Voi giả những ngà thật đấy ! Tương-truyền hai cặp ngà voi đó là tặng-phẩm do triều Lý (chừng là đời Lý Anh-tông, 1138-1175) ban cho dân làng Đồng-nhân để chế voi thờ, nên trong bản Thần tích làng Đồng-nhân hãy còn chép cả hai vế biền-văn trích trong tờ biểu dân làng tạ ơn vua  Lý về việc ban tặng ấy.

Về sau, một chú Chích nào đó chừng vì kinh-tế áp-bách, đã dám phạm vào “vật thánh”: loay-hoay chực cưa chiếc ngà voi để đổi lấy áo cơm !. 

Nhưng, chắc phần vì lợi-khí không đủ, phần vì khủng-hoảng tinh-thần, nên hắn không đủ năng-lực làm xong việc phạm tội ấy nữa. Đến nay ngà voi vẫn còn trường thọ với non sông, phía trên nó chỉ còn in lại một nhát cưa dở để làm dấu-hiệu răn-chừa những kẻ tội-ác.

HOA BĂNG 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1, 2) Một kỳ sau, tôi sẽ có bài nói rõ cái cớ từ nay ta nên viết là Trưng-Chắc (ch) và Trung-Nhì (ì).

3) Nhân nói đến cha của hai bà Trưng là quan Lạc-tướng, tôi lại sực nhớ đến một chuyện “sử liệu” rất tức cười. Nguyên ngày 26  Février 1941, trên mặt một tờ báo hằng ngày kia, dưới cái đầu đề “Chút ít sử-liệu về hai bà Trưng” bằng chữ lớn, một nhà “sử-học” chúng ta đã phát-kiến được “ít sử liệu” (!) “rất công phu” bởi tấm lòng can-đảm phi thu thường: “Trưng-Trắc và Trưng-Nhị… là con quan Lạc-Tướng úy là Trật-Khảo…” (hai chữ Trật-Khảo , tác-giả viết hoa và có dấu nối cầu thận). Trời ! Cha của hai bà Trưng tên là Trật-Khảo ? Sao mà người ta đã moi ở đầu ra được cái “sử liệu” lạ lùng đó Vì sợ độc-giả báo ấy có người tin rằng tên quan Lạc-Tướng quả thật như thế, nên nay tôi xin vì sử học mà cải-chính giúp tác-giả bài ấy: hai chữ đó nguyên là “dật khảo” cũng như “thất tường”, nghĩa là không thể khảo được hoặc không thể biết rõ được nữa. Bốn chữ “danh tự dật khảo” bằng hán văn chua ở dưới chỗ nói về Lạc-tướng ấy ý nói tên và tự của cha bà Trưng là gì nay không thể kê cứu được. Thế mà người ta tầm cả âm lẫn nghĩa, cũng nguy cho sử học lắm nhỉ !

4) Cụ Drơng-Duy-Thanh, quán làng Phú Thị, phủ Khoái-Châu (Hưng yên) là tằng tổ bạn Dương Tụ Quán.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn