COVID-19 có thể để lại hậu quả lâu dài, cách tốt nhất là nên phòng tránh từ sớm. 

COVID lâu dài (Long COVID) – còn được gọi là hội chứng COVID kéo dài, COVID kinh niên, hoặc hội chứng dai dẳng – đề cập đến các triệu chứng tồn tại trong bốn tuần hoặc hơn sau lần nhiễm COVID-19 lần đầu. Bác sĩ nội khoa và tim mạch [được hội đồng chứng nhận] Peter McCullough thảo luận về các phương pháp điều trị tiềm năng đối với COVID kéo dài trong một cuộc phỏng vấn với Bác sĩ Al Johnson được đăng trên YouTube, với nội dung như những xét nghiệm nào có thể cần thiết và khi nào cần tìm đến sự chăm sóc y tế khẩn cấp.

Nhiều triệu chứng cũng có thể tương tự với triệu chứng do việc chích vaccine COVID-19 gây ra, và bác sĩ McCullough nêu chi tiết bốn loại hội chứng thương tổn do vaccine COVID-19 mà ông đã gặp trong khi hành nghề y. Bất kỳ ai cũng có thể gặp hội chứng COVID kéo dài, nhưng những bệnh nhân đã từng điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt có nhiều khả năng gặp phải hội chứng này hơn.

Theo ông McCullough, 50% trong nhóm này sẽ có các biểu hiện của hội chứng COVID kéo dài.

Các triệu chứng phổ biến của hội chứng COVID kéo dài

Các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng COVID kéo dài tồn tại trong bốn tuần hoặc hơn sau khi bạn được chẩn đoán mắc COVID-19, gồm có:

  • Mệt mỏi
  • Thở nhanh hoặc khó thở
  • Ho
  • Đau khớp
  • Đau ngực
  • Các vấn đề về trí nhớ hoặc khả năng tập trung
  • Các vấn đề về giấc ngủ
  • Đau cơ hoặc nhức đầu
  • Tim đập nhanh hoặc đập mạnh
  • Mất khứu giác hoặc vị giác 
  • Trầm cảm hoặc lo lắng
  • Sốt
  • Chóng mặt khi đứng
  • Hoặc các triệu chứng trở nên tồi tệ hơn sau các hoạt động thể chất hoặc tinh thần.

Các triệu chứng này là hệ quả của sự tổn thương trong các hệ cơ quan sau: hệ hô hấp/phổi, hệ miễn dịch/dị ứng, ty thể/hệ thống năng lượng, tim, hoặc hệ thần kinh trung ương/ngoại vi.

Theo dõi các cục máu đông trong 90 ngày

Nếu bạn đã bị COVID-19, đặc biệt là bị bệnh nặng, hãy lưu ý rằng cục máu đông và các vấn đề về tim, bao gồm đau tim, có thể xảy ra trong 90 ngày hoặc hơn sau khi hồi phục. Người ta tin rằng dấu tích của virus vẫn còn tồn tại trong hệ thần kinh, phổi, tim, và các cơ quan khác.

Nếu các triệu chứng bao gồm khó thở, ho ra máu, hoặc đau một bên ngực khi hít hơi sâu, thì đó có thể là do huyết tắc mạch phổi [muộn] hoặc do cục máu đông đang di chuyển đến phổi.

Chụp CT ngực có thuốc cản quang 

Trong trường hợp này, ông khuyến nghị nên chụp CT ngực có thuốc cản quang và nếu phát hiện có cục máu đông thì nên sử dụng thuốc chống đông đường uống từ 3 đến 6 tháng. Ông cũng sử dụng aspirin liều đầy đủ (325 mg mỗi ngày) cho hầu hết những người bị hội chứng COVID kéo dài, kể cả những người không có vấn đề về cục máu đông.

Tuy nhiên, một giải pháp thay thế an toàn hơn và có hiệu quả tương đương với aspirin là các enzyme dạng uống có tác dụng tiêu sợi huyết như lumbrokinase và serrapeptase. Bạn có thể sử dụng luân phiên hai loại enzyme này: một ngày dùng lumbrokinase và ngày tiếp theo dùng serrapeptase, bởi vì bạn sẽ cần sử dụng chúng trong khoảng ba tháng và có thể phải chịu những tác động không tốt [nhạy cảm] do các enzyme này, theo thời gian.

Bất kỳ ai đã từng bị COVID-19, đặc biệt là có các triệu chứng nghiêm trọng, nên xét đến việc dùng các enzyme đường uống có tác dụng tiêu sợi huyết để bảo đảm không có cục máu đông.

Xét nghiệm D-dimer

Một phương pháp khác xác định xem có xảy ra đông máu hay không là xét nghiệm được gọi là D-dimer, mặc dù khá đắt tiền. D-dimer là một đoạn protein được cơ thể hình thành khi cục máu đông tan rã.

Bình thường, D-dimer không thể phát hiện được hoặc chỉ xuất hiện ở mức độ rất thấp, nhưng mức độ D-dimer có thể tăng lên đáng kể khi cơ thể bạn đang hình thành và phá vỡ các cục máu đông. Nếu hàm lượng D-dimer của bạn thấp, thì bạn không cần phải dùng các enzyme. Tương tự như vậy, nếu bạn bị COVID-19 rất nhẹ, giống cảm lạnh, bạn có thể không cần chúng.

Xét nghiệm protein phản ứng C (CPR) 

Ngoài chụp CT và có thể cả xét nghiệm D-dimer để loại trừ thuyên tắc phổi nếu bạn đang có các triệu chứng, bác sĩ McCullough đề xuất xét nghiệm protein phản ứng C (C-reactive protein, CRP) có độ nhạy cao cung cấp chỉ số chung về tình trạng viêm.

Ông nói: “Việc theo dõi cục máu đông này rất quan trọng. Tôi đã thấy nhiều trường hợp việc theo dõi cục máu đông bị bỏ sót… Điều này gần như xảy ra hàng ngày, đặc biệt là trong vòng 90 ngày đầu tiên sau nhiễm COVID-19.”

Khi áp dụng đúng cách, xông hơi khô bằng tia hồng ngoại có thể là một trong những cách giải độc cơ thể an toàn và dễ dàng nhất. (Ảnh: Wavebreakmedia/iStock)

Các vấn đề về thần kinh và tim thường phổ biến 

Viêm màng ngoài tim và viêm màng phổi cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân có hội chứng COVID kéo dài.

Bác sĩ McCullough nói: “Virus có thể gây viêm sưng. Protein gai của virus trong cơ thể kích hoạt phản ứng viêm.”

Trong những trường hợp này, ông kê đơn steroid và colchicine, một loại thuốc chống viêm sưng thường được sử dụng cho bệnh Gout để giảm nồng độ acid uric. 

Nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ thực sự xảy ra mà không được báo trước trong hội chứng COVID kéo dài; vì vậy Bác sĩ McCullough cảnh báo những người đang hồi phục hãy “đề phòng”, đặc biệt nếu bạn đã được đặt stent tim hoặc động mạch cảnh bị hẹp do xơ vữa.

Các hội chứng thần kinh

Các hội chứng thần kinh cũng xảy ra trong hội chứng COVID kéo dài, mặc dù không được mô tả rõ ràng. Các triệu chứng bao gồm đau khớp và cơ, đau đầu, đầu óc thiếu minh mẫn, và ù tai. Một số người cũng có những thay đổi trong hệ thống thần kinh tự chủ [gồm giao cảm và đối giao cảm], chẳng hạn như nhịp tim tăng cao và các bệnh thần kinh cảm giác, bao gồm tê và yếu chân.

Bác sĩ Al Johnson khuyên bạn nên sử dụng ống lăn xốp (foam roller) cho vùng lưng từ 3–5 lần mỗi ngày để thư giãn hệ thần kinh cũng như giảm đau xương sườn do các cơn ho. Bác sĩ McCullough đã có một số thành công trong việc điều trị các triệu chứng thần kinh với một SSRI (thuốc chống trầm cảm) cũ hơn gọi là fluvoxamine.

Hỗ trợ hệ vi sinh vật trong cơ thể 

Nghiên cứu của Bác sĩ Sabine Hazan đã chỉ ra rằng hệ vi sinh vật của bạn đóng một vai trò đáng kinh ngạc trong COVID-19. Đây là một trong những lý do khiến một số người trong cùng một gia đình không nhiễm COVID-19 trong khi những người khác lại nhiễm bệnh này. Hệ vi sinh vật khỏe mạnh bảo vệ bạn trước sự phát triển của COVID-19. Bifidobacterium là một trong những vi khuẩn hàng đầu có khả năng chống lại COVID-19.

Ông nói: “COVID-19 rõ ràng là một hội chứng đường tiêu hóa.” 

Virus SARS-CoV-2 tích tụ trong mũi và miệng của bạn và khi nuốt, virus sẽ được đưa xuống đường tiêu hóa. Tránh xa các chất gây kích ứng đường tiêu hóa là rất quan trọng, nên chọn các thực phẩm sạch như thực phẩm hữu cơ và nước suối đóng chai thủy tinh, nếu có thể. Ăn thực phẩm lên men hoặc dùng probiotic chất lượng cao, tránh thực phẩm chế biến sẵn, và tránh sử dụng kháng sinh khi không cần thiết cũng cần thiết cho sức khỏe đường ruột.

Mệt mỏi kinh niên và rối loạn giấc ngủ

Mệt mỏi kinh niên là một vấn đề lớn cho nhiều người bị hội chứng COVID kéo dài, và đối với điều này thì liệu pháp oxy cường độ cao (HBOT) được khuyến nghị vì khả năng cải thiện chức năng của ty thể.

Liệu pháp oxy cường độ cao (HBOT) giúp cơ thể tránh được các rối loạn chức năng ty thể, tăng tốc độ sản xuất ATP, giúp cơ thể gia tăng năng lượng trong khi giảm tình trạng không minh mẫn và mệt mỏi ở não. Liệu pháp oxy cường độ cao (HBOT) giúp chữa lành các mô cơ thể như phổi, tim, và cơ, đồng thời giảm viêm sưng và giảm các triệu chứng.

Nếu bạn có vấn đề về rối loạn giấc ngủ – thường gặp ở những người mắc hội chứng COVID kéo dài – nên tránh uống rượu trong ít nhất một tháng, vì “chỉ cần uống một ly rượu trong 28 ngày sẽ phá hủy cấu trúc giấc ngủ.”

Ảnh hưởng của virus COVID so với ảnh hưởng của vaccine

Bác sĩ McCullough đã trình bày chi tiết các hội chứng không gây tử vong xảy ra sau khi tiêm vắc xin COVID-19 – thường gây ra các triệu chứng tương tự như hội chứng COVID kéo dài trong nhiều trường hợp..

Các hội chứng do vaccine gây ra thuộc 4 lĩnh vực: tim, thần kinh, miễn dịch, và huyết học.

Biến chứng trên tim 

Viêm cơ tim là hậu quả được công nhận của cả vaccine COVID-19 và virus COVID-19, nhưng chúng hoàn toàn khác nhau.

Ông cho biết: “Đối với trẻ em, nguy cơ nhập viện vì viêm cơ tim sau khi chích vaccine Pfizer hoặc Moderna cao hơn do virus COVID-19.”

“Viêm cơ tim do virus COVID-19 là nhẹ và không quan trọng. Tôi không muốn bất kỳ ai nghĩ rằng bệnh viêm cơ tim mà chúng ta đang thấy do nhiễm trùng tự nhiên giống như những gì chúng ta đang thấy với vaccine… Có nghiên cứu cho thấy các hạt nano lipid thực sự đi thẳng vào tim; cơ tim biểu hiện protein gai của virus, và cơ thể tấn công chính cơ tim.”

Ngoài viêm cơ tim, rung nhĩ ở người trẻ tuổi và viêm màng ngoài tim cũng có thể xảy ra sau khi chích vaccine COVID-19.

Biến chứng thần kinh

Bên cạnh các hội chứng tim do vaccine, còn có các hội chứng thần kinh sau chích ngừa tương tự như ở những người bị hội chứng COVID-19 kéo dài, bao gồm hội chứng Guillain-Barré có thể gây tử vong; liệt thần kinh mặt ngoại biên; co giật; nhức đầu dai dẳng; và cục máu đông trong não.

Biến chứng về miễn dịch học sau chích ngừa

Số lượng tế bào lympho bị ức chế tăng lên và kích hoạt lại các hội chứng do virus khác gây ra, bao gồm virus Epstein-Barr và bệnh zona.

Biến chứng huyết học

Biến chứng thứ tư là về huyết học, xảy ra khoảng hai tuần sau khi chích vaccine, xuất hiện ban xuất huyết giảm tiểu cầu do vaccine. Các dấu hiệu bao gồm bầm tím khắp cơ thể, chảy máu lợi và mũi, nước tiểu sẫm màu. Nếu bạn nhận thấy những dấu hiệu này trong vài tuần sau khi chích ngừa vaccine COVID-19, hãy đến bệnh viện ngay lập tức.

Tiến sĩ Joseph Mercola là người sáng lập Mercola.com. Một bác sĩ chấn thương chỉnh hình và là tác giả có nhiều sách bán chạy nhất, nhận nhiều giải thưởng trong lĩnh vực sức khỏe tự nhiên. Tầm nhìn cốt lõi của ông là thay đổi mô hình y tế hiện đại bằng cách cung cấp cho mọi người nguồn tài nguyên quý giá để giúp họ kiểm soát sức khỏe của mình.

Tú Liên biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn