Bà Đoàn-thị-Điểm biệt hiệu là Hồng-hà nữ sử, em gái Tiến-sĩ Đoàn-trác-Luân, người xã Giai-phạm, huyện Yên-mỹ (Hưng Yên).

Bà sinh dưới triều Lê-đế-Duy-Phương (1729-1732) cùng thời với ông Đặng-Trần-Côn người làng Nhân-Mục, huyện Thanh Trì (Hà-đông), tác giả Chinh-phụ-ngâm-khúc (nguyên văn chữ nho).

Thông-minh vốn sẵn tự trời, bà học một biết mười, lúc nhỏ đã nổi tiếng trên văn-đàn. Thường nhật, làm văn bài, bà vẫn thường cùng anh liên – đối.

Khi mới năm tuổi, bà học sách Hán-Cao-Tổ, Đoàn-Trác-Luân ra câu đối rằng :

“Bạch sà đương đạo, Quỷ bạt kiến nhi chảm chi”

(Rắn trắng ngang đường, ông Quý (tên vua Hán-Cao-Tổ) tuốt gươm mà chém đấy)

Bà đối ngay:

“Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết…”

(Rồng vàng đội thuyền, vua Vũ trông trời mà than rằng…)

Xem hai câu đối trên, đủ tỏ bà có thiên-tài lỗi lạc, ngay lúc thiếu-thời.

Năm 15 tuổi, văn đã uẩn-súc lắm. Mấy câu ứng-khẩu sau này đã làm cho người đương thời phải phục bà là một bực kỳ- tài trong nữ-giới.

Một hôm, Luân xuống ao rửa chân, thấy bà đương đứng soi gương bèn ngâm rằng:

“Đối kính hoạ my, nhất điểm phiên thành nhị điểm”. (Soi gương,

đánh lông mày, một nét hoá ra hai nét).

Điểm là nét vẽ lại là tên bà, có ý nói soi gương, một nàng Điểm thành hai nàng Điểm.

Bà ứng-khẩu đối ngay:

“Lâm trì ngoạn nguyệt, trích luân chuyển tác song luân”. (Tới ao ngắm mặt trăng, một vừng hoá ra hai vừng)

Luân là ví mặt trăng tròn như bánh xe, lại là tên ông Luân. Ý nói nhìn xuống ao một ông Luân hoá ra hai ông Luân.

Một đêm vợ Luân sắp đẻ, Luân hỏi bà: “Độ bao giờ thì chị sinh?”

Bà trả nhời:

“Bán dạ sinh hài, “Hợi, Tý” nhị thời vị định” . (Tí 子 Hợi 亥 ghép lại thành chữ Hài 孩). Nghĩa là nửa đêm thì đẻ , giờ Hợi hay giờ Tý chưa biết giờ nào.

Luân tiếp:

“Lưỡng tinh lương phối, “Tị, Dậu”, tam hợp nãi thành”. (Tị 巳, Dậu 酉  lại thành chữ Phối 配 ).  Nghĩa là hai bên lấy nhau, tuổi Tị tuổi Dậu mới hợp tuổi nhau.

Thời bấy giờ, có mấy danh – sĩ ở đất kinh – đô thường được tôn là Tràng-an:

1. Nguyễn-huy-Kỳ, quán huyện Thuỷ-nguyên Kiến-an.

2. Trần-danh-Tân, người Cổ-am, huyện Vĩnh-bảo Hải- dương;

3. Nguyễn-Bá-Lân, người Cổ-đô ?;

4. Vũ-Toại, người Thiên-lộc ?.

Nghe tiếng bà có văn-tài, họ rủ nhau tới nhà để cùng bà ngâm họa xem tài hơn kém ra sao.

Bà ra một câu đối:

“Đình tiền thiếu-nữ động Tân-lang”. (Gió hưu trước cửa động buồng cau). Thiếu nữ là người con gái nhỏ, tân-lang vừa có nghĩa chàng rể vừa có nghĩa cau, thực ra khó đối, khiến bốn nhà danh-sĩ phải ôm hận ra về.

Một ngày kia, bà gặp ông Nguyễn-Công-Hàng ở giữa đường. Ông Hàng bào bà vịnh thơ “Độc-hành” (đi một mình) bà ứng khẩu đọc luôn:

“Đàm-luận cổ kim tâm-phúc hữu,

Trung-tuỳ tả hữu cổ quăng thần”

(Đàm-luận đời xưa, đời nay thì có bạn tâm phúc. Theo đuổi mình, bên trái, bên phải thì có bầy tôi chân tay).

Niên hiệu Long-đức (1732 – 1735), đời Lê Thuần-Tôn, vua Tàu sai sứ sang tuyên-phong cho vua ta, bà dùng văn-chương mà triết phục được sứ Tàu. 

Từ đấy, bà càng nổi tiếng trên văn đàn; các danh-sĩ trong nước đều thán-phục.

Thái-học-sinh Đặng-Trần-Côn soạn một bài thơ, đưa cho bà xem, bà trả lại, cười, nói rằng: “Trẻ con mới cắp sách đi học, đã biết gì !”

Đặng giận lắm, ra về, thề quyết chí học cho thành tài. Gặp lúc chúa Uy-nam-vương Trịnh-Giang cấm cửa rất ngặt trong kinh- thành ban đêm, Đặng phải đào hầm xuống đất, để đêm có thể dùng đèn xem sách. Chăm-chỉ dùi mài kinh-sử, sau Đặng trở nên một danh-sĩ đương-thời. Đặng soạn quyển “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ nho, trao cho bà xem. Bà khen hay, bèn dịch ra quốc-âm. Bản quốc- âm lưu-truyền tới ngày nay thực là áng văn tuyệt diệu có một không hai trong nền quốc văn đời Lê mạt.

Bà là người có biệt-tài trong văn-giới, song chữ tài chữ mệnh thường hay ghen ghét, cho nên bà không sao tránh được cái công lệ của tạo hoá :”Khách má hồng nhiều nỗi truân-chiên !”

Gần 30 tuổi, bà mới kết duyên cùng quan Thượng-thư Nguyễn-Kiều, tự là Hạo-Hiên, người huyện Từ-Liêm (Hà-đông). Tuy là phận tiểu-tinh, nhưng hai vợ chồng yêu nhau vì nết, trọng nhau vì tài, nên trong gia đình có nhiều lạc-thú.

Năm 70 tuổi, bà tới kinh-thành mở trường dạy học, môn sinh rất đông mà thành-đạt cũng nhiều.

Tác phẩm của bag bằng chữ nho thì có Tục Truyền Kỳ, vân vân. Còn văn nôm rất hiếm, trong số ấy có Chinh phụ ngâm khúc bản quốc âm.

Ngoài 80 tuổi, bà mất, để lại cho nữ – giới một tấm gương sáng trên văn đàn…

NHẬT NAM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn