Thấy quốc-văn là thứ văn viết 1 bằng tiếng mẹ đẻ, nhiều người tưởng rằng viết quốc-văn rất dễ, có thể viết sao nên vậy, không cần phải mẹo mực phép-tắc gì. 

Nghĩ thể, lầm to !

Lại có lắm người học tuy rộng, biết tuy nhiều, nhưng viết quốc-văn thì lại lủng-củng, lằng-nhằng lôi-thôi, ngớ-ngẩn, có khi lời không đạt được ý nữa ! Đó vì họ ôm cái thành-kiến coi khinh quốc-văn, không chịu luyện tập, tưởng rằng cứ nói thế nào thì có thể viết ra thế ấy.

Nghĩ thế, lại lầm to !

Xin nhớ viết lối “chắp chữ” bằng tiếng mẹ đẻ thì dễ ai cũng có thể cầm bút là viết được; nhưng viết cho ra văn, viết cho lấy hay thì không phải là chuyện dễ dàng.

Chính ông Huỳnh Thúc Kháng đã thú thực trên tờ Tiếng Dân . Ban đầu chưa quen viết quốc-văn, Ông thấy rằng hạ bút viết một bài văn bằng chữ hán thật dễ dàng và mau chóng hơn viết một bài bằng tiếng mẹ đẻ nhiều lắm.

Mà ông Phan Khôi cũng đã lớn tiếng nói trên tờ Phụ-nữ Tân Văn: Chính ông phải luyện tập quốc-văn hàng hơn mười năm, rồi mới viết được như này đấy !.

Lại một ông bác-sĩ kia viết văn tây tuy giỏi, nhưng khi viết đến quốc-văn, nếu gặp bài nào quan trọng thì ông lại phải viết bằng tiếng Pháp trước, rồi nhờ người khác dịch ra tiếng ta. 

Kể ba thí-dụ trên, tôi chỉ có ý muốn tỏ ra rằng những ai dù giỏi văn tàu, văn tây đến đâu cũng không thể một bước nhảy ngay lên địa vị “hay quốc-văn” được. Muốn viết được quốc-văn cho thật hay, tất phải trải qua những lịch-trình “sát da, sầy vảy”, phải chịu những thủ tục “tôi, rèn” của “ lò lửa” thời gian, bấy giờ thanh bảo kiếm bách luyện đo văn-khí kết-tinh kia mới mong nảy những tia sáng quắc được.

?

quốc-văn, cũng như văn tự các nước khác, có chia làm hai lối Khẩu-ngữ thể và văn-ngữ thể.

Khẩu-ngữ thể là lời nói thường, từ ngữ thể đến cú-pháp đều theo tự nhiên mà thốt ra, không cần phải trau-chuốt cho văn-vẻ, không cần phải đẽo gọt cho đúng mực-thước. Có khi lời nói tuy không rạch-ròi khúc-triết, nhưng người nghe cũng có thể đón ý, nghe giọng mà hiểu suốt được.

Khác thể, văn-ngữ thể phải đúng mẹo, phải phân minh, phải rành mạch, phải hết sức tránh cái nạn tối nghĩa, không đạt ý, lằng-nhằng, lủng-củng, khó hiểu.

Khẩu-ngữ thể có thể dùng nhiều nhiều những tiếng giới-từ như “của” liên-từ như “ thì, mà” cũng chẳng sao. Còn văn-ngữ thể ? càng tránh được những tiếng “của”, “thì”, “mà” ấy bao nhiêu càng hay bấy nhiều. 

Trong Khẩu-ngữ thể thường hay dùng những tiếng trợ-từ như à, ư, chưa, v v.

Cử lệ: 

Anh không đi à? Tôi lại chịu thế ư? Ông đã lấy đủ giấy-má chưa ?

Lại có liên tiếng chỉ có thể dùng trong Khẩu-ngữ thể nhưng không thể viết trong văn-ngữ thể  được, tức như những tiếng mấy, lị. 

Có thể nói : Đời tôi mấy. Sao lị thế ?. 

Nhưng khi viết, trừ những trường. hợp muốn hình dung khẩu-văn của người nói, cần phải viết là: Đợi tôi với! Sao lại thế ?. 

Như vậy, cần phải nhận rành cái tỉ mỉ trong mẹo mực quốc-văn và cần phải chú-trọng về cách luyện chữ, luyện câu, mới mong, có thể viết thành văn được.

?

Ngoài cách làm văn ra, trong lối viết quốc-văn ngày nay, từ những tiểu tiết như viết hóa những tiếng tên riêng, đặt gạch ngang đề nối những tiếng kép, tôi nhận thấy phần nhiều hay còn lỗ-mỗ, chưa nhất trí.

Ngay như trên tờ Tri-Tân này, tôi xin thừa nhận, những khuyết, điểm ấy. cũng hay còn chưa tránh được hết.

Về cách viết hoa các tiếng tên riêng và đặt dấu nối các tiếng kép, bạn Đào Duy Anh đã nói kỹ ở một đoạn trong thiên ( “Dạng-bản văn-pháp” đăng trên Tri-Tân rồi. Nay xin nhắc lại đoạn ấy của Đào-quân, rồi ta cùng nhau thảo luận: 

“ Cách viết tiếng chỉ tên riêng. –

“ Tiếng chỉ tên riêng là tiếng đơn thì phải biết hoa chữ đầu, ví dụ: anh Xuân, hộ Lê núi Ngự, lũy Thầy.

“ Nếu là tiếng kép thì phải để dấu nối ( trait d’union ) đề nối liền những tiếng đơn lại.

“ Nếu là tên người hai tiếng thì hai tiếng đều phải biết hoa, ví dụ: Huyền-Trân, Đĩnh-Chi, Công-Trứ, Mạnh-Trinh. Những tên tự, tên hiệu, tên tước, tên miếu thì viết nối, mà

chỉ tiếng thứ nhất viết hoa mà thôi, ví dụ: TỔ – như, Thanh – hiện, Văn – trình, Thành-tôn.

“ Nếu là tên họ hai tiếng thì chỉ chữ đầu tiếng nên viết hoa thôi, ví dụ, Tư-mã, Gia-cát.

“ Nếu là tiếng gồm cả họ và tên người thì tiếng họ và tiếng tên viết rời nhau, ví dụ :

“ Mạc Đĩnh-Chi, Nguyễn Công-Trứ, Chu Mạnh-Trinh, Nguyễn Văn-Siêu, Tư-mã Tương-Như, Gia-cát Lượng Nguyễn Huệ.

“ Nếu là tên đất gồm nhiều tiếng thì phải để đấu nối, mà chỉ chữ đầu tiếng thứ nhất là tiết hoa thôi, ví dụ:

“Hương-giang, Bắc-kỳ, Hải-vân quan.

“ Khi tên đất ấy gồm một tên chính với một tiếng chỉ tỉnh thì tiếng chỉ tỉnh viết riêng mà chữ đầu phải viết hoa,ví dụ:

“Thủy Chân-lạp. Bắc Phi, Nam Tư-lạp-phu, Triều-sơn Tây, Thanh thảo Thượng.

“ Nếu là tên sự bất thì nên phân-tích ra từng lời, những tiếng gồm một lời viết nối nhau và chữ đầu tiếng thứ nhất phải viết hoa, ví dụ: 

“ Văn-nghệ Phục hưng, Hưng quốc Khánh-niệm.

“ Nhưng nếu hai lời có hàm ở nghĩa liên lạc hay tương đối thì phải biết nốt lại, ví dụ : Anh-Pháp Đồng-minh, Pháp-Đức Chiến-tranh.

“ Nếu là tiếng chỉ tên riêng do tiếng tây dịch âm thì những tiếng dùng để dịch một tiếng tây ấy phải viết nối nhau, mà chỉ viết hoa chữ thứ nhất thôi, vi dụ : Phi-lip, Pê-tanh, Pi-e La-van, Các-mác, Rút-xô, Pa-ria (Coi Tri-Tân số 15, trang 17).

Những đề-nghị về văn-pháp ấy của Đào-quan, tôi hầu hết tán-đồng

Nhưng xin thêm rằng: phàm những tiếng chuyên-danh-từ, khi đã đổi thành hình-dung-từ, thì ta không cần phải viết hoa nữa.

Cử lệ: Tiếng việt-nam, văn-hóa trung-hoa, chiến-tranh nga-đức… Tôi muốn những hình-dung-từ ấy không viết hoa để phân biệt với những khi chúng là chuyên danh từ:

Tiếng của Việt-nam, văn hóa của Trung-hoa, chiến-tranh giữa Nga, Đức. 

Có người sẽ nói: Tiếng ta khác với tiếng pháp, nên không cần phải theo luật ấy trong văn-pháp tây. Vì những hình-dung-từ trong pháp-văn thường đổi theo giống và số, hợp với danh-từ mà nó đi cùng. Hình-dung-từ của ta không đổi, không hợp, thì cần gì phải theo cái lệ ấy:

Nói vậy chỉ là một cách dung-túng cho những sự cẩu-thả, không nhất trí.

Nếu người ta đã cho những tiếng “tàu” trong “tranh tàu, sử tàu, sách tàu” đều là hình-dung-từ không phải viết hoa, thì sao không theo một lối ấy mà viết cho nhất trí trong những trường-hợp giống thế: văn vần trung-hoa, văn học tàu, chiến-tranh trung-nhật ?

Không viết hoa những tiếng “trung-hoa tàu” và “trung-nhật” ấy có cái lợi là giúp cho người đọc phân-biệt được ngay khi thấy chúng nó đã từ chuyên-danh-từ đổi ra hình-dung-từ. Bấy giờ người ta mới dễ nhận thấy công-dụng của những tiếng “của” và “giữa” đứng làm “trung-gian” có cái quan-trọng là thế nào.

?

Kể ra, quốc-văn ta còn có nhiều cái cần phải đem ra thảo-luận, cần phải tìm cách làm cho nhất-trí trong khi viết, rồi mới mong nó có một tương-lai tốt-đẹp, rực-rỡ được.

Xin ai đừng coi thường quốc-văn!

Xin ai đừng khinh-suất, cẩu-thả trong khi viết tiếng mẹ đẻ !

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)