Năm 1977, tôi là đồng tác giả của cuốn sách, “Chiến Thắng Bằng Tiền”, trong đó giải thích mối quan hệ giữa nguồn cung ứng tiền và giá cổ phiếu. Nghiên cứu của chúng tôi khẳng định rằng trong khi sự thay đổi nguồn cung ứng tiền sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế sau 6–9 tháng, thì thời gian chờ sẽ ngắn hơn nhiều đối với giá cổ phiếu. Hiểu được mối quan hệ này giữa vấn đề nguồn cung ứng tiền và giá cổ phiếu là điều cần thiết để đầu tư vào cổ phiếu.

Trong những thập niên gần đây, việc theo dõi lượng cung ứng tiền đã không còn được ưa chuộng. Trớ trêu thay, các quan chức Cục Dự trữ Liên bang (Fed), những người kiểm soát nguồn cung ứng tiền của quốc gia, lại có vẻ ít quan tâm đến tiền nhất.

Chủ tịch Fed Jerome Powell đã mạnh mẽ bác bỏ tầm quan trọng của vấn đề cung ứng tiền này. Trong lời khai trước Quốc hội hôm 24/02/2021, ông nói, “Đã có lúc lượng cung ứng trong chính sách tiền tệ là yếu tố quan trọng quyết định lạm phát, và điều đó đã không còn xảy ra trong một thời gian dài.” Ông Powell thừa nhận việc cung ứng tiền không phải là yếu tố chính trong các quyết định chính sách của Fed. Thay vào đó, Fed sử dụng lãi suất làm định hướng chính.

Bỏ qua lượng cung ứng tiền là sai lầm lớn nhất mà cả Fed và những người nắm giữ cổ phiếu có thể phạm phải. Đây là lý do tại sao:

Fed kiểm soát lượng tiền khi mua hoặc bán chứng khoán – thường là Trái phiếu kho bạc. Khi Fed mua trái phiếu, họ làm tăng nhu cầu đối với những trái phiếu đó, do đó làm tăng giá của chúng, làm giảm lãi suất của trái phiếu.

Vì tất cả các tài sản đều có các sản phẩm thay thế tương đồng, nên chúng đều có liên quan với nhau. Khi Fed đẩy giá Trái phiếu kho bạc cao hơn, Fed cũng làm tăng giá của các sản phẩm thay thế tương đồng. Những thay đổi về giá này ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính, làm tăng giá trái phiếu, cổ phiếu, và cuối cùng là các hàng hóa và dịch vụ khác.

Quyền lực của Fed trong việc tạo ra tiền mới liên quan trực tiếp đến cách họ thanh toán cho các trái phiếu mà họ mua. Vì Fed là ngân hàng của các ngân hàng, nên Fed thanh toán trái phiếu bằng cách thêm một khoản credit (ghi có) vào tài khoản của ngân hàng mà qua đó trái phiếu đã được mua. Giao dịch không có gì ngoài một bút toán kế toán (accounting entry), một bút toán tạo ra sự gia tăng ròng về tài sản tài chính.

bơm thanh khoản
Tòa nhà của Cục Dự trữ Liên bang ở Hoa Thịnh Đốn, hôm 22/10/2021. (Ảnh: Daniel Slim/AFP qua Getty Images)

Sự gia tăng ròng tài sản tài chính này làm tăng dự trữ ngân hàng, vốn là “nguyên liệu thô” của việc cung ứng tiền. Các thành phần thô của tiền, bao gồm dự trữ ngân hàng và tiền tệ, còn được gọi là “tiền mạnh”. Tiền đó mạnh là do cách thức của hệ thống ngân hàng dự trữ phân đoạn, có thể nhân số lượng tiền trong nền kinh tế lên nhiều lần so với mức tăng của lượng “tiền mạnh”.

Điều ngược lại xảy ra nếu Fed bán trái phiếu. Biện pháp này hút tiền ra khỏi nền kinh tế và gây áp lực giảm giá tài sản, bao gồm cả cổ phiếu, đồng thời làm tăng lãi suất.

Mặc dù ngày nay tiền vẫn quan trọng hơn bao giờ hết, nhưng những thay đổi về định chế đã khiến việc đo lường sự cung ứng tiền trở nên phức tạp hơn. Những thay đổi định chế quan trọng nhất đến từ Fed. Những thay đổi này này thường làm cho các thước đo tiền tệ truyền thống trở nên kém tin cậy hơn như một hướng dẫn cho nguồn cung tiền và làm tăng tầm quan trọng của loại “tiền mạnh”.

Một sự thay đổi định chế như vậy đã xảy ra vào năm 2007, khi Fed thay đổi cách tiếp cận để quản lý việc cung ứng tiền. Trước khi có sự thay đổi này, Fed đã mua trái phiếu như thường lệ. Từ năm 2001 đến năm 2006, Fed mua thêm trung bình từ 5 đến 6% chứng khoán mỗi năm. Tiếp theo là mức tăng chi tiêu bình thường (GDP theo USD) bình thường mỗi năm từ 5 đến 6%.

Đến năm 2007, khi lạm phát gia tăng, Fed đã quyết định làm chậm nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Động thái đầu tiên của Fed là bắt đầu bán trái phiếu. Từ tháng 7–10/2007, Fed đã bán 11 tỷ USD trái phiếu. Việc bán đã hoàn thành mục đích của họ. Giá cổ phiếu đạt đỉnh vào tháng Mười, 3 tháng sau khi Fed bắt đầu bán trái phiếu.

Vào cuối năm 2007, lượng nắm giữ trái phiếu của Fed không thay đổi trong năm. Do đó, trong một nền kinh tế có mức chi tiêu tăng từ 5 đến 6%, Fed đã tạm dừng tăng trưởng nguồn cung ứng “tiền mạnh”. Đến tháng 01/2008, 7 tháng sau khi Fed bắt đầu bán trái phiếu, nền kinh tế bước vào thời kỳ suy thoái.

Với nền kinh tế đang suy yếu rõ ràng, truyền thống và giải pháp hợp lý là Fed tiếp tục mua trái phiếu, tạo ra nhiều tiền hơn.

Điều đó đã không xảy ra. Thay vào đó, Fed đã đảo lộn truyền thống và logic. Trong những gì đã trở thành biện pháp chính sách tồi tệ nhất kể từ năm 1929, Fed đã mạnh tay bán trái phiếu, rút ​​tiền ra khỏi nền kinh tế.

Đến tháng 07/2008, Fed đã bán hơn 300 tỷ USD, tương đương 40% số trái phiếu của mình. Vụ mua bán này đã đưa lượng trái phiếu nắm giữ của Fed (và do đó là số “tiền mạnh”) trở lại vị trí cũ như đã có vào năm 1999, chín năm trước đó! Đây là sự sụp đổ nghiêm trọng nhất của “tiền mạnh” kể từ năm 1929. Tiếp theo là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ năm 1929.

Chính sách quá kém hiệu quả bởi vì Fed đã bỏ qua những gì họ đang làm đối với “tiền mạnh”, là loại tiền mạnh nhất trong các tổng số của nguồn cung tiền. Vào cuối năm 2007, Fed đã giảm lãi suất cơ bản xuống 0% và Chủ tịch Ben Bernanke cho biết Fed đã làm mọi thứ trong khả năng của mình để giúp đỡ nền kinh tế. Thị trường chứng khoán và nền kinh tế tiếp tục đi xuống theo chiều xoáy ốc.

Cho đến tháng 02/2009, Fed mới bắt đầu mua trái phiếu một cách có ý nghĩa. Trong vòng một tháng kể từ khi mua vào, thị trường chứng khoán đã đảo ngược vòng xoáy đi xuống của nó. Đến tháng 07/2009, nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Với sự trợ giúp của việc mở rộng lượng mua vào, chính sách tiền tệ đã góp phần vào tăng giá thị trường đối với các cổ phiếu đã kéo dài trong 12 năm.

Tôi có đang gợi ý rằng Fed đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách giảm lượng cung ứng “tiền mạnh” xuống 40% không? Vâng! Đó chính xác là những gì tôi đang nói.

Tôi đã được hỏi, “Làm thế nào mà Fed lại có thể vướng một sai lầm lớn như vậy và tránh khỏi sự đổ lỗi?”

Câu trả lời dường như là mặc dù Fed có thể không giỏi quản lý tiền bạc lắm, nhưng Fed lại có một bộ phận tiếp thị thật ấn tượng.

Cho đến ngày nay, Fed không cung cấp manh mối nào cho thấy họ đã học được gì từ những gì đã xảy ra vào năm 2008. Thay vì tập trung vào nguồn “tiền mạnh”, Fed tiếp tục bỏ qua nguồn tổng cung tiền và tập trung vào lãi suất.

Chủ tịch Powell khẳng định việc Fed thao túng lãi suất là cách hiệu quả nhất để kiểm soát chính sách tiền tệ. Không phải vậy. Sự gia tăng lạm phát gần đây không phải là một bất ngờ. Đó chỉ là một bất ngờ đối với Fed và những người khác tin rằng tiền không còn quan trọng nữa.

Những thay đổi lớn về lượng “tiền mạnh” đã cung cấp những manh mối có giá trị để bán cổ phiếu vào đầu năm 2008, trước khi thị trường sụp đổ. Chúng cũng cung cấp manh mối ban đầu để mua cổ phiếu vào mùa xuân năm 2009, trước đợt tăng của thị trường kéo dài 12 năm qua.

Tác động hiện tại của “tiền mạnh” lên giá cổ phiếu là chủ đề của bài viết tiếp theo của tôi.

Quan điểm trong bài viết này là​​ của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Tiến sĩ Robert J. Genetski là một nhà kinh tế học, nhà cố vấn, giáo viên, tác giả và diễn giả. Trong 25 năm qua, với tư cách là người đứng đầu công ty cố vấn của riêng mình, ông đã cung cấp cho khách hàng những hiểu biết sâu sắc về tác động tài chính của các phát triển chính sách. 

Vân Du biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn