Các dân tộc Á Đông, đặc biệt là những người sống ở thôn quê, dường như có nhiều điều kiêng kỵ truyền tai nhau hơn cả. Cho dù người ta không thể lý giải được những thứ trong danh sách kiêng kỵ đó, nhưng cho rằng: Có thờ có thiêng, có kiêng có lành… vậy là người này truyền người kia cho đến ngày nay.

Không rõ tự bao giờ, nhiều người đã hình thành tâm lý muốn né tránh phụ nữ mỗi khi bước chân ra đường đi đâu đó, đặc biệt là thời điểm khởi sự cho những công việc quan trọng. Vậy rốt cuộc câu nói ‘Ra đường gặp phụ nữ là xui’ hoặc ‘Ra ngõ gặp gái là xui’  đến từ đâu và ứng nghiệm đến mức nào? Hay đó chỉ là lời đồn truyền qua lại, nhằm bao biện cho sự thất bại?

Trên các diễn đàn, hoặc trong các cuộc tán gẫu trà dư tửu hậu, chủ đề này vẫn được bàn luận sôi nổi, cho rằng bước chân ra khỏi ngõ mà gặp nữ giới thì thế nào chuyện cũng bất thành, lành ít dữ nhiều.

Những người làm ăn buôn bán, cánh tài xế đường dài xem ra là kiêng kỵ hơn cả. Vào những hôm đầu tháng, đầu năm, hôm có việc quan trọng, hoặc có việc đi xa người ta lại càng để kiêng kỵ hơn nữa. Nếu vừa ra đường gặp phụ nữ họ sẽ quay lại nhà và đốt lửa để xua đuổi vía dữ, tránh trường hợp bị vía của người nữ kia ám vận. Có trường hợp, người ta còn nhờ một người đàn ông quen biết đón sẵn ở cửa để chắc chắn không gặp phải phụ nữ khi xuất hành cho chuyện đại sự.

Có phải đàn bà nặng vía hơn đàn ông?

Theo nhiều người thì chuyện kiêng gặp phải phụ nữ xuất phát từ quan điểm “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo thời phong kiến. Đàn ông ba hồn, bảy vía, đàn bà ba hồn chín vía. Vía đàn bà nặng hơn. Phụ nữ đại diện cho tính âm, trong khi những điều may mắn, hạnh phúc lại đại diện cho tính dương. Vậy nên, người ta cho rằng, nếu gặp người nam thì hôm đấy mọi điều suôn sẻ may mắn, nếu gặp người nữ thì xui xẻo, mọi việc bất thành.

Kỳ thực trong Nho giáo xưa kia không bàn đến vấn đề này. Quan niệm “ba hồn bảy vía” có nguồn gốc từ Đạo giáo, cho rằng con người sống được là nhờ “tam hồn thất phách” này, điều chỉnh mọi hoạt động và tư duy. Mà cho dù là nam hay nữ thì chỉ có ba hồn bảy vía mà thôi.

Người xưa quan niệm, con người gồm có phần thể xác và linh hồn. Người ta sở dĩ nói năng, đi lại, sinh hoạt được là nhờ linh hồn trú ngụ và làm chủ thân thể. Khi qua đời, linh hồn rời bỏ thân xác thịt, thể xác tan đi, còn linh hồn thì bất tử.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều có viết:

“Kiều rằng: Những đấng tài hoa

Thác là thể phách, còn là tinh anh”

Thể phách chính là thân xác thịt, tinh anh chính là linh hồn.

Còn Vụ Thành Tử trong “Thái Vi Linh Thư” viết : “Người ta có ba hồn lần lượt là Sảng Linh, Thai Quang, và U Tinh”. Ba hồn này chính là ba bộ phận tổ hợp thành thần khí của con người. Người ta mất đi một hồn hoặc hai hồn thì vẫn còn có thể sống sót. Nhưng nếu đã mất đi ba hồn thì sẽ trở thành một thân xác không hồn, sống đời thực vật.

Do vậy, khái niệm nam “Ba hồn bảy vía” còn nữ là “Ba hồn chín vía” dường như là mới được sáng tác ra sau này. Rồi sau đó nó trở thành nguyên cớ để nói rằng đàn bà “nặng vía”.

Cũng có khá nhiều người nói rằng quan niệm “ra ngõ gặp gái” xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, ý là xem thường phụ nữ trong thời Nho giáo phong kiến, nhưng đây cũng là một nhận định sai lầm.

“Trọng nam khinh nữ” là tư tưởng được diễn dịch từ quan niệm “Nam tôn nữ ti” vốn có nguồn gốc từ Kinh Dịch. Trong Hệ từ của Kinh Dịch có viết: “Trời cao đất thấp, càn khôn định như thế. Cao thấp bày ra, là vị trí cao và thấp vậy. Đạo càn thành nam, đạo khôn thành nữ” (nguyên văn là: “Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ. Càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ”).

Cách ứng xử tinh tế và khéo léo giữa vợ và chồng
(Tranh minh họa: Hoạ sĩ Cừu Anh thời Minh/Tài sản công)

Trong đó Tôn nghĩa là cao, Ti nghĩa là thấp, là hai từ mô tả vị trí. “Thiên tôn địa ti” biểu thị ý nghĩa “Trời ở trên, đất ở dưới, trời cao đất thấp”, là để nói về trạng thái tự nhiên vốn dĩ sinh ra là thế. Người xưa phân chia trời và đất, âm và dương, hay nam và nữ là để nói chúng khác nhau, mang đặc tính riêng biệt, chứ không có ý cho rằng cái này cao quý, cái kia thấp hèn theo như quan niệm hiện đại. Bởi vì tự nhiên là vậy, do âm và dương hợp thành, không có nam thì cũng chẳng có nữ. Con người sinh sống trong đó và cứ thế mà thuận theo, cũng gọi là người thuận theo đất, đất thuận theo trời.

Ngày xưa người vợ như tể tướng trong nhà

Cổ nhân rất xem trọng hoài bão và chí khí của nam nhi. Nếu là quân chủ thì họ phải vì quốc gia đại sự mà lo lắng, nếu là một người dân thường thì nên là trụ cột gánh vác gia đình, chứ không chỉ vì hưởng thụ cá nhân mà sống.

Cổ nhân đặt mối quan hệ vợ chồng như mối quan hệ quân thần. Người chồng như là vua, là người đứng đầu một nhà. Người vợ chính là tể tướng chủ quản bên trong gia đình. Cho nên, thời xưa người vợ còn được gọi là “Chủ mẫu”, được mọi người yêu trọng. Còn trong việc dạy con, một người vợ hiền lương sẽ bồi dưỡng ra những người con vừa có tài vừa có đức, ảnh hưởng đến cả vận mệnh của quốc gia. Cho nên, cổ nhân nói, có hiền nữ mới có hiền thê, có hiền thê mới có hiền mẫu, có hiền mẫu mới có hiền tử.

Không chỉ vậy, trong lịch sử xưa nay, có nhiều phụ nữ tham gia vào việc trị quốc, buông rèm nghe chính sự. Trong đó phải kể đến: Chân Tông Lưu Hậu, thông tường sách sử cổ kim, am hiểu chính sự, giúp đỡ được vua Chân Tông. Khi Chân Tông mất, bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính đầu tiên của thời Tống. Hay như Nhân Tông Tào Hậu, tinh thông kim cổ, là người hiền đức. Bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính dưới thời Tống Anh Tông Triệu Thự.

Hoặc như Anh Tông Cao Hậu. Bà được đánh giá có tài chấp chính, làm đất nước phồn vinh, ngoài ra cũng nổi tiếng bởi sự hiền minh lễ độ. Lại thêm Thần Tông Hướng Hậu giữ ngôi chính cung trong vòng 18 năm, được đánh giá là hiền huệ, ôn hòa lễ độ, quán chủ hậu cung một cách anh minh, sáng suốt. 

Chân dung Từ Thánh Quang Hiến Tào Hoàng hậu. (Ảnh: Tài sản công)

Nhà thơ Mai Nghiêu Thần nổi tiếng thời Tống có người vợ là Tạ Thị. Khi Mai Nghiêu Thần tiếp đãi các sĩ phu xử lý công sự, thì vợ là Tạ Thị thường đứng sau bình phong lắng nghe, sau đó cùng với Mai Nghiêu Thần bàn bạc xem sĩ phu có phải là người hiền hay không, việc đó được mất thế nào, phân tích rất cụ thể và rõ ràng. Mai Nghiêu Thần cũng tán thưởng vợ với người ngoài. Điều này nói rõ rằng thời đó kẻ sĩ đại phu tán thành phụ nữ tham dự vào việc công, không có ai cho rằng đó là “phụ nữ tiếm quyền”.

Việc kiêng kỵ gặp nữ giới khi xuất hành khởi sự, xem ra là một quan niệm ít nhiều đã biến dị, nó thể hiện tâm thái khinh rẻ, coi thường phụ nữ. Thực ra để có mặt trên đời này, ai mà chẳng được phụ nữ sinh ra và yêu thương nuôi dưỡng?

Ra ngõ gặp phụ nữ vẫn đậu Trạng nguyên, trở thành sứ thần lỗi lạc

Tích cũ lưu lại rằng, Đào Sư Tích sinh năm 1348 dưới thời nhà Trần, con trai của tiến sĩ Đào Toàn Bân. Ngay từ nhỏ Đào Sư Tích đã có sức học vượt đồng môn, lại có tài ứng đáp và thơ phú. Năm lên 7 tuổi cậu bé Đào Sư Tích đã nổi tiếng thần đồng, xa gần đều biết tiếng.

Khoa thi năm 1374 thời vua Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích thi Hương, thi Hội và thi Đình đều đỗ đầu. Vì thế mà ông còn có danh hiệu là Tam Nguyên.

Dân gian lưu truyền câu chuyện Đào Sư Tích khi dự kỳ thi cuối cùng như sau:

Buổi sáng hôm đó, ông chuẩn bị sẵn cơm nắm, quyển lai kinh, rồi vác lều chõng lên đường. Nhưng vừa ra đầu ngõ thì “trời ơi đất hỡi”, ông gặp ngay một cô gái đi ngang qua. Nhớ câu “ra ngõ gặp gái là xui” ông liền buột miệng:

– Ta đi thi mà lại gặp gái thế này!

Cô gái liền đáp rằng:

–  Gặp tôi có can gì đến việc đi thi của ông? Gặp con gái là tốt vì chữ “nữ” (女) ghép với chử “tử” (子) là chữ “hảo” (好), ông đi chuyến này ắt đỗ Tiến sĩ.

  • (*) Tử mang nghĩa là nam tức người con trai, cũng là chữ “tử” trong sĩ tử.

Đào Sư Tích đáp rằng:

– Tiến sĩ đâu vừa ý ta.

Cô gái lại nói:

– Thế thì ắt đỗ Trạng nguyên.

Ông vừa lòng, trả lời:

– Chính là hợp ý ta.

Khoa thi ấy Đào Sư Tích làm bài xuất sắc đỗ cao nhất, trở thành Trạng nguyên. Khoa thi năm ấy học trò của ông Đào Toàn Bân (tức cha của Đào Sư Tích) có ba người đỗ rất cao. Đỗ cao nhất là Trạng nguyên Đào Sư Tích, đỗ cao thứ hai tức Bảng nhãn là Lê Hiến Phủ, người còn lại là Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ.

Từ trường hợp này của Đào Sư Tích thì có lẽ phải đổi lại là: “Ra ngõ gặp phụ nữ, mã đáo thành công” thì mới đúng.

Sau khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được phong làm Lễ bộ Thượng thư; rồi được thăng làm Nhập nội hành khiển, kiêm Hữu ty lang trung, tức chỉ đứng sau Tể tướng. Thế nhưng hiểu được bụng dạ của Hồ Quý Ly, ông cáo quan về quê bốc thuốc dạy học.

Bấy giờ nhà Trần đang nhiều gặp khó khăn cấp bách với ngoại bang. Nhà Minh bên Trung Quốc yêu cầu vua Trần phải cống nạp rất nhiều lương thực, nhân tài, sản vật quý hiếm… để khiến nhà Trần không đáp ứng được, có cớ đem quân tiến đánh.  

Khi này rất cần một nhân tài đi sứ để hòa hoãn với nhà Minh, tuy nhiên không một ai có thể gánh nổi trọng trách này ngoài Đào Sư Tích. Dù đã cáo quan, nhưng vì vận mệnh đất nước, Đào Sư Tích đã lĩnh ấn đi sứ. Ông đã thể hiện tài năng hiếm có và thuyết phục được nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn được việc cống nạp tăng nhân, kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.

Tâm lý may rủi và thái độ đổ lỗi

Quan niệm “Ra ngõ gặp gái” xuất phát từ tâm lý tin vào may rủi, dưới một vỏ bọc kiêng kỵ vì “các cụ bảo thế”.

Thực ra về chuyện may rủi, cổ nhân đều giảng rằng: “người làm điều thiện ông Trời để dành phúc cho”. Những chuyện may mắn trong đời là có thực, nhưng không phải ngẫu nhiên, mà đều do tích đức, tạo phúc từ đời này đời khác, gieo thiện lành gặp thiện duyên. Gieo nhân gặt quả, ấy là cốt lõi của “may mắn” trong hết thảy các kinh sách tôn giáo, cũng như lời dạy của Thánh hiền. 

Quan niệm ra ngõ gặp gái, gặp bà bầu, còn thể hiện tâm lý đổ lỗi cho đối tượng khác ngoài bản thân mình. Khi nhận kết quả tốt xấu của một sự việc, thay vì suy xét phải chăng do bản thân mình chuẩn bị chưa tốt, nỗ lực chưa đủ, hành xử chưa đúng, học hành chưa đến nơi đến chốn?

Một việc tốt hay xấu đều có nguyên nhân từ bản thân, có thể là do mình làm không tốt, cũng có thể là duyên nghiệp của bản thân mình tạo thành bởi những việc không như ý, theo Phật gia giảng là nghiệp nợ của mình mà thôi. 

Chưa biết ra ngõ gặp đàn bà có thật là gây xui xẻo cho họ hay không, nhưng chắc chắn nguyền rủa người không liên quan đến mình là không nên, điều này trong kinh sách nhà Phật đều giảng hết sức minh bạch. Theo Pháp lý, một khi tạo nghiệp rủa xả người khác, thì phải lấy đức của bản thân để bù đắp cho người ta, rốt cuộc, thêm nghiệp mà tổn đức. Như vậy quả là trong vô minh mà làm tổn hại chính mình.

Quan điểm trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Epoch Times Tiếng Việt.

Đan Thư