Một đêm thu. Trong phòng khách ấm-cúng sáng dịu, tôi đang tiếp chuyện Lê-quân và Đặng-quân với bao niềm nở thân mật.

Thình lình Đỗ-quân từ G.L. tiến vào… vừa ngồi yên. Mưa thu ào-ào đổ xuống. Tôi ung-dung đọc: 

“Vũ Đồ kiềm tỏa năng lưu khách”

(Mưa không có then khóa cũng níu buộc được khách ở lại).

Đỗ-quân liền kể cho chúng tôi nghe câu thơ ấy là chuyện thơ ta, chứ không phải là chuyện thơ tàu…

Thấy tài liệu ấy có thể góp thêm vào chuyện “Trạng Me, Trạng Ngọt” mà bạn Tiên-Đàm và bạn Long-Điền đã kể trong 2 số Tri-Tập 15, 19, tôi cầm bút thuật lại ra đây: 

Nhà Đàm ở làng Me (Hương mặc) có cô gái cưng. Ông bà Đàm muốn kén cho con một tấm chồng thật xứng đáng để, một mai, có thể đạt được nguyện vọng “ voi anh trước, võng nàng sau”, theo tâm lý chung của cái xã-hội đương trọng khoa cử. 

Tin kén rể ấy lọt ra ngoài. Ba chàng “hay chữ” được ông Đàm cùng tiếp trong một lúc.

Mưa giữ khách ở lại ! Ông Đàm liền ra chung cho ba chàng một vế như trên để thử khẩu-khí của mỗi người:

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách”

Nguyễn Giản-Thanh, cũng người làng Me, đối trước:  

“Sắc bất ba đào dị nịch nhân”

(Sắc đẹp tuy không có sóng gió, nhưng làm cho người ta đắm-đuối dễ như bỡn! ) 

Hay! hay tuyệt ! thế nhưng không được hân hạnh làm khách giường đông! Ấy vì ông Đàm chê rằng tác-giả có giọng khinh bạc, con cháu không bền, mặc dầu sau này Nguyễn Giản-Thanh quả đỗ Trạng-nguyên. 

Ngô-sinh người làng Ngọt, bấy giờ cũng dự cuộc, đối bằng giọng hiền lành:  

“Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân ý”. 

(Trăng có chiếc cung, nhưng không bắn người nào).

Yêu vì Ngô, khẩu-khí trung hậu, cả phúc đức, con cháu sẽ khá, ông bà Đàm ưng gả ngay cô con gái quí cho “chàng Bảng-nhỡ, tương lai” ấy.

Còn câu đối của người thứ ba, vì không sách, nên xin miễn chép.

♦️

Đỏ-quân lại kể thêm; Nguyễn Giản-Thanh bấy giờ tuy bắn trượt bình sẻ, nhưng khi còn bé, Nguyễn đã tỏ ra là một thiện-tài, rất mẫn tiệp trong những câu đối ứng khẩu…

Một hôm, có khách, đi võng đào mắc dưới hai đầu đòn chạm trổ hình con bạc, đến chơi với cha của Nguyễn.

Khách ra cho Nguyễn câu này khi thấy Nguyễn đang tinh nghịch ngồi trên mo cau làm ngựa cho trẻ khác kéo:

“Trẻ cưỡi ngựa mo”

Nguyễn nhìn lên đầu đòn võng, nhanh trí đối :

“Già chơi hạc gỗ”. Lại một lần khác, có ông bạn của cha cưỡi ngựa đến chơi nhà, Nguyễn đang xúng xính trong chiếc áo đỏ dài lê thê, cũng ứng khẩu đối: “Lọng xanh che đài ngựa” 

Khi ông khách ấy ra: 

“Áo đỏ quét cứt trâu”.

SONG CỐI

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn