Trong một kỳ trước, chúng tôi đã nói sau khoa võ trương thi năm Mậu Dần (1878), ở Huế còn lại khoa thi hội về ngạch võ nữa (1).

Năm Canh Thìn (1880) niên hiệu Tự Đức thứ 33, mở khoa thị hội cả văn lẫn võ tại kinh đô Huế.

Số thí sinh ứng cử có tất cả 1000 võ cử nhân và 1000 thí sinh tam trường. Trong khi thi và trước ngày thi, các thí sinh đều được nhà nước cấp cho lượng ăn ở kinh, mỗi suất được hai hộc lương và hai quan tiền.

Chương trình thi hội đại khái như thi hương (2), nhưng chỉ khác là da nặng hơn vài bậc. Ví dụ như tạ nặng hơn, chạy giài, súng bắn, đích để xa, v. v. Ai được trúng cách thi hội mới được vào đình đối.

Trước khi vào thi đình, phải nộp đơn nói rõ đã học đủ, thập bát ban võ nghệ, binh thư, binh pháp, nay tình nguyện vào đình thi.

Còn những thí sinh có đợt nói rõ “ vô hữu thức tự ” (không

biết chữ), không học binh thư, thì gọi là phó trúng cách mà lấy vào bảng phó bảng.

Chích trúng cách mà hỏng đình thi thì phải thoái hồi cửa nhân

Đình thi: thi luôn trong một ngày ở ngay sân điện Thái Hòa, chỉ có nghỉ độ mươi phút là lúc nhà vua ban cho ăn uống.

Khoa ấy đức Dực Tôn se mình, nên có quan khâm mệnh chủ khảo và các quan giám khảo hội đồng chấm ở điện Thái Hòa.

Các bài thi gồm có: 

1) Thập bát ban võ nghệ. – Phải đi đủ cả mười tám thử binh khí, dùng binh khí thật; sai một bài cũng bị đánh hỏng.

2) Đầu quyền. – Thí sinh phải đấu với 5 người lính ngự lâm do quan trường đã tuyển ra. Phải đấu cho kỳ thắng được ba người mới có điểm ưu, bình; chỉ thắng được hai: hỏng ! Những lính ngự lâm mà thua các thí sinh thì phải phạt lương trong 9 tháng. Vì thế họ đều hết sức trổ tài ra đấu. 

3 ) Đầu roi, đầu côn. – Cũng đấu với 5 người ngự lâm như trên.

Xong ba kỳ này, thiện dụng binh khí gì thì dùng thử ấy ra đấu với 5 người lính ngự lâm: thắng ba, mới đỗ.

Qua các kỳ trên là giời sẩm tối. Nhà vua có ban yến (cơm rượu). Trước khi ngồi vào mâm, các thí sinh đều làm lễ tạ ân.

Ăn xong, các thí sinh vào kỳ đối sách. Mỗi thí sinh phải làm một đầu bài. Đại để khoa ấy hỏi về Tôn, Ngô binh pháp, Binh gia yếu lược, Võ Minh, Võ lược, những trận lớn của các danh tướng xưa.

Trong khi đối sách, thí sinh nào viết chậm thì đã có thư ký | đằng lục viết hộ.

Đối sách xong, lại phải sát hạch lại bằng cách thi bắn. Mỗi người phải bắt 9 phát, phải trúng đích ít ra là 3 phát. Kỳ này gọi là “ phúc hạch cửu phục ” đề phòng thi gian. 

Khi các quan trường xét các phân số có ưu bình mới tâu lên nhà vua xin châu phê lấy đồ.

Ngày truyền lò: Một viên quan trong ban giám khảo, áo, mũ tề trỉnh, bưng bảng có về rồng, ngồi trên bành voi, dịch loa mà xưởng danh từng tên người đỗ một.

Truyền lô xong, người ta rước bảng rồng ấy ra niêm yết Phú Văn Lâu để thiên hạ cùng biết.  

Các ông tân khoa đều được bạn một cái mũ, một áo bào màu lam. Rồi do quan trường đưa vào điện Thái Hòa, bái mạng, tạ ân, dự yếu. 

Lệ bản triều; các tạo-sĩ cũng được ban cờ biển và cho về vinh quy ba tháng. 

Tin khoa được phép dừng trạm đi do dich từ kinh về tận nguyên quán, Khi gần đến tỉnh mình còn cách ba cung trạm, thì quan Tổng đốc và quan Đề đốc bản tỉnh tuân theo giấy sức trong Bộ, phải mang binh lính, voi ngựa ra ngoài ba cung trạm đón tiếp nhà võ tân khoa. (Chỗ này khác với văn tiến sī). 

Hết hạn ba tháng, tạo sĩ được sơ bộ ra làm quan thụ hàm ngũ phẩm cai đội; nhưng sáu tháng sau thì được thăng lên một trật. Phó bảng phải một năm rưỡi.

Con các quan võ cũng được tập âm như bên văn, Lệ định: Con võ quan từ ngũ phẩm trở lên gọi là: “ Anh danh ”  ; từ ngũ phẩm trở xuống gọi là “ Giáo dưỡng ”. Họ đều được khai vào học trường vũ bị ở Kinh và ăn lương nhà nước.

Những quan võ, do chân khoa mục xuất thân, khi ra làm quan, mới được có hai chữ “ tinh binh ” , “ cấm binh ” (cũng như văn: hàn-lâm). 

Có một điều lạ: theo lệ đã định, hễ quan văn mà cải sang làm quan võ thì người cha phải phạt 50 quan tiền ! Còn con quan võ đổi sang văn thì người cha lại được thưởng năm mươi quan tiền. Quan võ muốn cải sang bên văn phải tổn sụt một trật lúc đi cùng chức; nhưng trong những lúc triều hội thì vẫn theo phẩm cấp mà đứng vào ban,

Xem thế, đủ biết ở nước ta vẫn sủng văn, không thượng võ, cho nên thế gian có những câu :

Văn thì cửu phẩm là sang; 

Võ thì tử phẩm còn mang gươm hầu ! 

Và : 

Quan văn mất một đồng tiền 

Làm cho quan võ mất quyền quận công ! 

Nhưng xét ra: văn võ đều đáng trọng cả. Trong khi quan văn cai trị thu xếp ở trong cũng cần phải có quan võ uy, trấn chỗ biên giới thì nước mới bình yên được.

Khoa Canh Thìn (1880), có tất cả 15 ông phó ở bảng (khoa này không có ông nào đủ phân số đỗ Tạo-sĩ. Mà một sự lạ: từ khi bản triều khai khoa võ, không có một người Bắc kỳ nào đỗ Tạo sĩ cả.

?

Dưới đây, tôi xin lục đăng những quí tính phương danh các vị đại khoa khoa ấy, do một cụ đã dự thi cho biết (2). Vì lâu ngày nên không đủ và tên họ sợ có sai nhầm, mong rằng những ngài nào là con cháu các cụ sẽ làm ơn đính chính cho:

Nguyễn Viết Ký quán làng Quất-Động, làm đến lãnh binh Hải-Dương hưu trí thăng làm đề đốc. 

Nguyễn Long quán Gia-Định (Nam-kỳ), ngụ Hà Nội, là con giai quan suất đội Nguyễn Văn Nghĩa, cháu quan Nam thiên thượng-trấn tổng trấn Nguyễn Văn Luận, làm thủy vệ quân cơ hồi quân Pháp hạ thành Hà Nội năm Nhâm-Ngọ (1882), sau quyền nhiếp phủ Đa Phúc, đi giám sát trường Nam, có sự bất đồng với quan chủ khảo, xin cáo hồi (3).

Nguyễn Văn Thảo quán làng Đông Phù, huyện Thanh Trì, làm đến Vệ-úy phấn nghĩa ở Kinh.

Võ Hữu Hùng quán làng Phú Diễn, phủ Hoài Đức, tỉnh Hanoi

nay thuộc Hà Đông, làm đến Đốc binh quân thủ Sơn Tây.

Nguyễn Hữu Dũng quán làng Hạ Trì phủ Hoài Đức, làm đến phó quản cơ Hải Dương.

Phạm Văn Duệ  quán huyện Tiên Lữ, Hưng Yên (là con ông Phạm Văn Tài lãnh binh Hưng Yên. làm đế Suất đội tỉnh Tuyên Quang rồi mệnh cố.

Phó bảng Khiển (không nhớ họ, Người làng Lạc Chính, Ý Yên, Ninh Bình, làm chức độc binh, sau tử trận trong thành Nam Định

Phó bảng Tường, Phó bảng Dự: Người phố hàng tre – Hà Nội

Còn sáu vị nữa vì lâu ngày nên không sao biên được hết. Mòng rằng các bạn ưu khảo cứu sẽ bổ túc thêm cho.

Trong bảng này có hai ông đại khoa có chân “ anh danh ”.

TIÊN ĐÀM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Xem Tri Tân số 2, trang 7. 

(2) Cụ Cử Nguyễn Đình Trọng tiêu húy là Tôn có thi đình khoa Canh Thìn, nhưng bị hỏng và phải thoát hồi cử nhân mặc dần trong kỳ thi bắn cụ đã quản cả ba kỳ, nghĩa là bắn trúng cả 9 phát

(3) Tiểu sử này là do ông Nguyễn Ngọc Mai, thứ nam Cụ Bảng Nguyễn Long, cho biết. Xin trân trọng kính tạ ông

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn