Sau khi đức Cao-hoàng nhất thống được Nam Bắc, định đỉnh ở Phú-xuân, mới bắt đầu xây thành ấy theo qui-mô của những kỹ-sư người Pháp đã theo giúp ngài.Thành Huế (thời Gia-long còn gọi là thành Phú-xuân) lúc mới dựng là một tòa thành gạch xây cao, chu-vi chừng sáu cây số, chung quanh có hào và pháo đài (coi bản đồ). Vào thành do mười cửa đều có cầu đá bắc qua, hết lớp thành ngoài, ở trong giáp về hướng Nam là thành nội, nơi vui ngự và trại lính, kho tàng.

Thành xây ngoảnh mặt về hướng nam, trước mặt là một sở giáo-trường lớn, rồi đến con sông Trường-tiền (tức là sông Hương Giang). Sông này ăn thông với ba con sông con ở ba phía thành kia thành ra một từng hào thiên-nhiên, ở phía bắc thành lại có một con sông đào chảy vào trong thành nội làm đường giao-thông bằng thuyền vì hồi ấy đường xá chưa được tiện lợi. 

Thành ngoại có 10 cửa: phía trước (hướng nam) hai cửa, phía sau hướng bắc hai cửa, còn hai phía đông, tây mỗi phía có ba cửa.

Trên các cửa thành đều có vọng-lâu lợp ngói làm chòi canh. Bốn góc thành lại còn có lầu chuông trong treo những chuông nhỏ, gió rung tiếng kêu leng keng. Những vọng-lâu và lầu chuông đều là chỗ cho lính trú canh ban đêm khi mười cửa thành đến đóng chặt.

Hồi ấy, cứ vào hồi canh hai khoảng chín giờ đêm cho đến sáng khoảng năm giờ sáng là đóng của thành. Sáng, chiều mỗi khi mở hay đóng cửa đều có bắn một phát súng thần-công làm hiệu.

Trên chúng tôi đã nói, kinh thành Huế hồi ấy không những là nơi vua ngự, lại còn có linh tráng, kho-tàng. Trong thành trừ vào nhà các quan, còn thì không có thường dân nào cả.

Các dân cư và việc buôn bán đền ở thành từng xóm nhỏ cách xa thành. Muốn từ xóm ấy vào thành, phải qua những cầu gỗ bác qua sông con. Các cầu này nối liền ba phía thành động, tây, bắc. Còn về hướng nam, trên sông Trường-tiền, sự đi lại vẫn dùng đò ngang, và những chiến thuyền của nhà vua thường đóng cả ở đấy.

Trên bờ sông, ở giáo trường trông ra, cách một khoảng 12 cây số là núi Ngự bình, tiền án của kinh-thành, đứng sừng sững với cả một cảnh đẹp thiên-nhiên.

Công trên bờ sông, phía ngoài thành, giáp bờ sông, phía tay phải, là nhà Thủy-tọa của nhà vua có cầu đi ra; gần đấy có trại lính kỵ-mã đóng. 

Cũng phía ấy, giáp của tây-nam là xưởng đóng thuyền, gọi là mộc-thương; còn bên tay phải ven sông là nhà Lương-tạ, nơi nghỉ mát cùng nhà tắm của vua và các phi-tần.

Nếu ta do hai cửa phía nam vào trong thành thì sẽ thấy: Bên phải giáp thành, toà Khâm thiên-giám, cạnh đấy là đàn Xã Tắc và hai bên tả, hữu gần thành nội có hai trại súng.

Bên trái, giáp thành là nha Tam-pháp,nơi xét các việc oan ức và văn án các tỉnh đệ về đề phúc thẩm và dâng lên ngự lãm.

Hai bên, về phía đông tây đền là trại lính đóng. Trại lính hồi ấy rất sơ-sài, chỉ là những dãy nhà rào, ở trong chỉ có những giá súng và ít phản, bọc làm nơi cho quân sĩ nằm.

Gần trại lính, về tay phải, có trường thi võ, tức là nơi cử ba năm một lần mở khoa tuyển hạch nhân tài võ nghệ sung vào quân đội.

Về tay trái, cũng giáp các trại linh, có những dãy nha-môn của lục-bộ: Hộ, Hình, Lễ, Lại, Công,Binh. Ăn len vào khu này, có các dinh của các quan-lại cũng các tôn thất. Giáp tường thành nội đi về hướng bắc là Võ khố, nơi chứa khí giới, quân nhu. Vòng lại phía bắc, trên bờ sông đào, cũng có hại kho: kho tiền, kho gạo.

Bên bờ con sông đào trông ra hướng bắc có: Tịch-điền, nơi vua ra làm lễ cày ruộng; trường thi văn, nơi kén lựa các sĩ tử để bộ dụng làm quan. Giáp hai bờ sông đào là nha Thừa-thiên, phủ, dinh quan Đề đốc và thư viện của nhà vua. 

Vì phía thành ngoài này có con sông đào đi vào thành, nên chỗ góc thành tây bắc có dựng một sở pháo đài rất kiên-cố; triều Gia-Long có đặt ở đây nhiều súng thần công lớn đề phòng-ngự. 

tạp chí tri tân

Sau khi đã cùng độc-giả vào xem hết thành ngoài, chúng tôi xin cùng độc giả vào xem thành nội.

Khu thành nội làm xế về hướng nam, chung quanh có tường xây bao bọc. Đến đời Minh-mệnh lại còn xây cao hơn lên. Thành nội là nơi vua ngự, vì là cấm-thành, nên người ra vào đều phải xét hỏi, Trừ ra các quan. chức, thuộc viên có đeo thẻ bài hay có lệnh-tiễn và đàn bà con gái ăn mặc tề-chỉnh. Còn thì những khi ai qua các cửa, lính canh đều có hỏi giấy-má hay vì việc gì mà vào thành. Khi được phép vào, lại phải ngả nón mà đi. 

Thành nội, mặt chính nam có ba cái cửa lớn, qui-mô theo kiến-trúc Trung-hoa, trên có vọng-lâu, đứng ngoài trông rất đồ sộ: ấy là cửa Ngọ-môn. Cửa chính có 1 đường ngự-đạo. Trước mặt Ngọ-môn là một nơi tiểu-giáo trường. Về thời Gia-Long, mỗi khi có cuộc diễn-tập, ngài thường ngự trên cửa Ngọ-môn; quân lính chẩy qua trước mặt đều phải quì làm lễ rồi lại tiến đi. 

Qua cửa Ngọ-môn đến các cung điện, điện Cần-chánh ở giữa là nơi thiết đại-triều. Bên hữu điện Cần-chánh là viện Cơ-mật có nội-các, tức là văn-phòng của nhà vua; bên hữu là nhà duyệt-thị (?), nơi bàn-bạc công việc sau những buổi triền-hội.

Sau các nhà này có một bức tường chắn ngang chia thành nội làm hai, có ba cửa, cửa giữa đề riêng nhà vua ngự. Ngay cửa giữa vào là điện Thái-hòa, qui-mô cũng như điện Cần-chánh, chỉ khác là không có những hành-lang. Trong điện Thái-hòa trần thiết rất đẹp, có những chậu sứ cổ giồng cây. Trong hồi đức Gia-Long và đức Minh-Mệnh trị vì, điện này là nơi vua ngự hằng ngày xét việc quân quốc.

Sag điện Thái-hòa đến cái sân vuông, rồi đến điện Cao-minh và những nhà thuộc về đại-nội.  Chung quanh cấm thành đều lát đá thanh và gần đây có dinh-thự các thân-vương, tôn-tộc ở rải rác. Lại có trại lính thị-vệ là những lính phải chầu-hầu nhà vua những khi ngài thiết triều hay ngự giá ra ngoài Hoàng-thành.  

San lưng đại-nội có một lối trồng tre mát mẻ là nơi vua ngự ra chơi mát. Gần đây có kho vàng, kho bạc, nơi để những của-cải châu-báu của đương triều. Sau các nhà kho giáp tường thành là hồ Tịnh-tâm, trong hồ có nhà thủy-tọa, và giồng toàn sen, dùng làm chỗ nhà vua tránh nắng, nghỉ mát

TIÊN ĐÀM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn