Những nhà sử- học phần nhiều chỉ biết có người Pháp sang làm quan bên nước ta, như Despieux, Vannier, làm cận thần cho vua Gia Long; người Đức sang làm quan bên nước Tàu , như Adam Schall làm ở Khâm – thiên – giám cho vua Khang – Hy. Ít nhà đã rõ một người Pháp từng bước chân sang đất Đông – dương này, tự tôn làm vua ở xứ mọi, được một thời kỳ, trên chốn cao nguyên ở phía nam Trung kỳ.

Chuyện kể ra cũng lý – thú, tựa như một chuyện phiêu lưu, nhưng chuyện đó có thực. Ai vào Huế, đến thăm nhà bảo – tàng Khải – Định, có thấy bức ảnh một người Tây dưới cằm hai chòm râu bạc, bận quốc – vương – phục phương Tây, tay phải cầm mũ, tay trái cầm một binh – khí xứ mọi gài vào thắt lưng, ấy chính là vị chủ – động bài này, tức là vua Nam bàn xứ mọi.

Xứ cao nguyên này theo Hoàng – Việt địa – dư chí, thì là một nước mọi, gọi là nước Nam bàn theo địa – dư bây giờ, thì địa giới chu vi thuộc về tỉnh – lỵ Kontum cai quản.

Toàn hạt có nhiều giống hạt khác nhau, Sê – đăng, Bà – Nam, Bi, Thổ – ma, Ra -đê, vân vân. Trong từng ấy giống, duy có giống Sê – đăng là đông hơn, thường có họp phiên chợ để giao – thiệp đổi – trác với người Việt – nam.

Vào khoảng niên – hiệu Đồng – Khánh thứ ba (1888), có một người Pháp tên là David de Mayrena, quê ở Toulon, tiến vào xứ Nam – bàn, tự xưng là vua dân mọi Sê – đăng, lấy vương hiệu là Marie ler, đặt quan, chia chức, ban bố luật – lệ.

Nguyên xuất thân ở đội hải – quân Pháp, sau theo đao binh khai thuộc – địa, ông được làm lữ – trưởng, vào tiến công xứ Nam – kỳ. Hồi chiến tranh năm 1870 ở Pháp, ông đã có quận – công, lên chức đại uý ở tuần tiểu – đội, nhân thế, có bội – tinh Bắc Đẩu.

Ông cưới vợ xong, xoay đủ nghề nào làm báo, nào làm thầy ký ở các công sở. Lại có gan lập một nhà ngân – hàng. Kế phá sản, liền bỏ đi hải – ngoại tìm sự – nghiệp ở Nam – dương quần – đảo. Chẳng bao lâu, lại trở về Pháp, vận – động thế nào lại được nhà nước sai luôn đi công cán xứ ấy. Nhưng, khi đến Sài – Gòn, ông bèn ở liền tại đó, không qua xứ Sumatra nữa.

Ở lại tỉnh Sài – Gòn, ông liền tổ – chức những công – cuộc khai – khẩn xứ Nam – kỳ, như tìm nhựa cây, mỏ vàng, và các hàng hóa thuộc địa. Đã có một vài lần có sự lôi thôi với chính phủ Nam – kỳ , sau lại được chính – phủ giao cho việc đi công – cán ở nội – địa xứ mọi. Chẳng qua bởi khó chịu về ông, nên chính – phủ kiếm cách xa ông ra.

Tưởng rằng xa ông ra như thế, thì đỡ lắm chuyện phiền cho chính phủ, không ngờ ông đi, lại sinh ra nhiều việc lôi – thôi hơn.

Dân xứ mọi vốn ghét những người lạ, thường tìm cách xua đuổi những người ngoài lọt vào thung – lũng họ. Đối với người Việt – nam người Lào, người Cao – miên cũng vậy, họ không ưa ai cả, nên không muốn cho ở gần họ. Chỗ cao – nguyên họ ở, chung quanh bao bọc những dãy núi cao, lại có tiếng ma thiêng nước độc. Vì thế ở riêng một khu – vũ, dân họ tự cai trị lấy nhau. Có giao – thiệp với người ngoài, chỉ hạn chế trong sự đổi thóc, gạo, vàng, ngà voi, hạt tiêu, mật ong lấy muối và vải mà thôi.

Khi David de Mayrena vào thăm xứ này, thì chính phủ Pháp mới lập xong công cuộc chính – trị hợp nhất xứ Đông – dương được một năm. Tuy xứ Nam – kỳ bấy giờ đã là nhượng địa được 20 năm rồi, nhưng cuộc bảo – hộ nước ta và Cao – miên vừa thiết lập xong, nên chính sách cai trị hãy còn dụt dè, chưa phổ cập tới đất xứ mọi.

Vua nước Xiêm khi ấy, thừa cơ cũng đòi thung – lũng dân mọi về quyền cai – trị của mình. Vua Xiêm tự nhận là vua giống Thái, sai sứ sang Lào và các miền dân thổ thuộc về quyền nước ta.

Sứ mình Pavie sắp được cử đi để tranh biện về việc đó, thì chẳng bao lâu, xảy ra việc tàn sát người Pháp và việc rắc rối ở BangKok. Chính phủ Pháp, không dụt – dè nữa, liền thi hành nốt cuộc bảo – hộ nước Lào. Vậy cuộc công – cán của De Mayrena này là để tìm một đường nối liền từ nội – địa xứ Trung – kỳ với lưu vực sông Mékong.

Việc đi viễn – lược này phải cầu đến những vị cố đạo giúp sức để tìm cách thân – thiện với những tù trưởng mọi. Có giao – hảo được với họ, thì ảnh – hưởng của nước Bảo – hộ mới lọt đến những miền xa – xôi này. Nhưng việc giao – thiệp phải rất khôn – khéo, để cho nước Xiêm khỏi ngờ vực, vì nước Xiêm khi ấy, có nước Anh chủ trương ở trong.

De Mayrena đã được thụ ý rằng, khi vào đế xứ mọi, phải kíp gửi cho đại – biểu Việt – nam sang dự cuộc triển – lãm ở Paris những thổ dân, khoáng – sản và các động – vật ở xứ mọi cùng những vật – dụng có quan hệ đến phong – tục ở xứ ấy.

Như trên đã nói, dân mọi không ưa người nước ngoài. Nhưng duy có các cố đạo ở Kontum là vào lọt được giữa chỗ họ ở mà thôi. Vì câu chuyện tàn sát dân cơ – đốc và việc khởi – nghĩa của đảng văn – thân ở Trung – kỳ vào giữa năm vua Hàm – Nghi lên ngôi (1885), nên các nhà giảng đạo trốn tránh vào đất mọi nhiều lắm. Lúc đầu họ còn giam lỏng các nhà truyền giáo vào một nơi độ hai năm, không cho giao – thông với ngoài. Sau, họ hiểu câu chuyện các nhà ấy bị dân mình hà hiếp, sau bụng ghét người mình nên họ đổi cách đối – đãi. Bởi vậy, những nhà truyền – giáo dần dần gây được lòng tin yêu của họ.

Cuộc công – cán của De Mayrena cũng nhờ các cố giúp sức nhiều lắm. Khởi hành từ tháng Avril năm 1888 ở tỉnh Qui – nhơn, De Mayrena đứng đầu một phái – bộ gồm 20 tên lính dũng Sài – gòn, một trăm tên vừa phu khuân – vác vừa người thông – ngôn. Lại đem theo một người nhân – tình bản – xứ, và một người Pháp nữa tên là Mercurol, nhưng người này đi được nửa đường thì trở lại.

Chẳng bao lâu, phái bộ đi đến những làng mọi đầu tiên, De Mayrena xin ký với những tù – trưởng họ những điều – ước giao – hảo. Đã có nhà dòng nhỉ – dẫn, ông thông – báo cho các tù-  trưởng công việc sứ – mệnh của ông rằng ý ông muốn họp cả các bộ – lạc dân mọi lại dưới quyền ông đẻ nhờ nước Pháp bảo – hộ, mà cùng phải cam đoan rằng từ nay đình – chỉ việc tranh – cạnh trong các bộ – lạc họ.

Ông tiến mãi vào nội – địa xứ mọi, vượt qua cả những thung – lũng mà trước kia đã có những cuộc thám – hiểm trải tới. Không ngờ dân mọi, đâu cũng hoan nghênh ông, ông liền bố cáo lên rằng mục – đích của ông là đến để bênh – vực dân mọi, chống lại với người nam và người xiêm.  ra ông được lòng tin cậy khắp trong các dân mọi.

Thâm ý của ông là định dự lập nên một triều – đình riêng của ông ở xứ mọi.

Một nhà truyền – giáo đi theo ông về có kể chuyện rằng : dân mọi thường thích nghe tiếng súng nổ, cầu khẩn ông bắn luôn cho họ xem. Thấy ông bắn nhằm đích, họ lấy làm phục lắm.  

Đến tháng Juin năm ấy, ông tổ – chức một chính – thể quốc – gia lập – hiến, gọi là “nước Sê – Đăng”, có đủ các tù trưởng các bộ – lạc ký kết.

Đến tháng Juillet, ông lại lập một hiến – chương mới, có 15 khoản như sau này :

Khoản 1 – Tất cả những địa – hạt của các bộ – lạc đã giao ước với nhau, từ nay họp thành một nước.

Khoản 2 – Đại – hạt của dân Se – đăng rộng hơn hết, nên lấy quốc hiệu là “nước Se – đăng”

Khoản 3 – Ông De Mayrena đã được bầu lên làm vua xứ Sê – đăng, thì từ nay được tôn lên làm Đại – đầu – vương.

Khoản 4 – Vua có quyền lập kế – tự. Nếu không có đích kế, vua có thể lập tự trong tôn – thân. Con trai trưởng vua gọi là Xô – đăng (tức như thái tử). Các tộc – thuộc, tuỳ nơi đều gọi là hoàng – tộc.

Khoản 5 – Quốc kỳ thì dùng màu lam, có chữ “thập” trắng và ngôi sao đỏ ở giữa.

Khoản 6 – Vua có quyền – hành tuyệt – đối : cai quản tất cả các tù – trưởng văn – võ trong nước và phân xử những việc bất – bình khi các tù – trưởng không phân xử xong.

Khoản 7 – Vua có quyền định – đoạt sự chiến hay sự hoà trong buổi hội đồng.

Khoản 8 – Vua tự đem quân đi chinh – chiến hay cử người đi thay ngài cũng được.

Khoản 9 – Những thổ – địa nào mà chưa có dân ở, là đất của vua, chỉ có vua mới có quyền xử – trí.

Những đất trong các làng không thể cho hay bán lại cho ai mà không có vua ưng – thuận. Nếu vua không cho phép, sự bán hay sự cho sẽ vô hiệu. Dân làng nào cũng có thể được hưởng dụng tất cả những đất – đai mà họ đã trồng – trọt theo sự cần dùng của họ. Nhưng, những đất hoang phải trả lại vua. Nếu vua muốn lấy đất của làng nào, phải báo cho xã trưởng làng ấy mà phải bồi thường một cách công – bằng.

Khoản 10 – Dân các làng phải chọn lấy xã – trưởng để trông – nom về việc nội – trị và việc tuần – phòng. Danh sách những xã – trưởng này sẽ đệ lên vua để được trao cho dấu – hiệu quyền chức. Còn những chức – vi phẩm – trật về văn – ban hay võ – ban, chỉ duy có vua là đấng chủ – tể mới ban cho được thôi.

Khoản 11 – Cấm trong nước từ nay sự hy – sinh thân – thể không được có nữa. Bãi việc nô – lệ, cấm dân Se – đăng không được đem bán người. Kẻ nào phạm phải, sẽ phải đem nộp cho vua, vua sẽ bắt làm việc công – tác cho nước.

Khoản 12 – Các tôn – giáo được tự – do truyền giảng trong nước Se – đăng, duy chỉ có đạo Gia – tô được nhận là quốc – giáo.

Đối với vua, hay với sứ – mệnh của ngài, thì lệ “riêng” (tức tục cấm vào trong làng) không được thi – hành nữa. Dù có chứng cớ gì mặc dầu, đã có lệnh của vua, thì “lệ riêng” phải bỏ.

Khoản 13 – Ngoài hội – đồng toàn hạt, có mặt các tù trưởng bên văn và bên võ, vua lại đặt thêm một hội – đồng tư – vấn, để trông nom các việc thường.

Khoản 14 – Phàm những tráng – đinh nào có thể mang nổi được binh khí đều là lính hết. Khi có việc chiến – tranh xảy ra, vua có thể hiệu – triệu số lính cần – thiết bao nhiêu cũng được. Ngoài đạo quân này, mỗi năm, mỗi làng phải cung bốn tên tráng – đinh cho vua để sung vào đội hộ – vệ.

Khoản 15 – Những sự sửa đổi mới vào hiến – chương này phải có vua cùng với hội – đồng toàn hạt định mới được, không thì vô hiệu. 

(Còn một kỳ nữa)

LIÊN-GIANG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn