Xưa nay, ở đời những bực phi thường mới làm nên những việc phi-thường, và mới gặp được nhiều việc phi-thường.

Chuyện phi-thường đó, người đời chó là cái may, nhà thuật-số cho là thiên mệnh, huyền huyền, bí bí, thần-diệu, dị-kỳ, không biết tại sao mà có, từ đâu mà nên; song xét cho cùng, cũng tự lòng người gây ra, cũng bởi đức người đem đến, cho nên người hiền hay gặp may, kẻ ác hay gặp dở.

Cái may trong đời người rất ảnh hưởng đến sự nghiệp, vì nhiều khi an-ủi được ta trong khi thất bại hay phấn khởi cho ta trong bước gian-nan.

Vua Gia-long là một vị anh-quân tài cao, đức cả, trong hai mươi mấy năm bô-bá, gặp mười mấy lần gian nan mà lòng khôi-phục cơ-đồ, chí mở-mang đất nước, không thay, không nản, thì thật đởm lược phi-thường, ít ai sánh kịp.

Muốn treo cao tấm gương nhẫn-nại và dũng cảm ấy, tôi xin kể ra đây những chuyện phi thường mà vua Gia-Long đã gặp, có ghi rõ trong sử-sách và in sâu trong trí nhớ của dân gian.

1 Trái Nam trân 

Tháng 8 năm Ất-mùi (1775), chúa Nguyễn Định-Vương: Sau khi bị quân Tây-sơn chiếm đoạt Quảng-nam, liệu thế đã yếu, chống-cự không nổi, mới cùng cháu là Nguyễn Ánh (vua Gia Long chạy vào Gia định. Trong khi lánh nạn, đi lạc vào rừng, đến đây nói về nguồn sống Cái, tức là nguồn Ô gia Đại-lộc Quảng-nam, quân lính hết lương. Lại gặp trận mưa như trút, ông Nguyễn Ánh mới truyền quân ẩn mưa dưới sườn núi. Trước cảnh vất-vả đói-rét, ngài không biết tính thể nào, đành chỉ vái Trời rằng:

“Nếu Trời còn cho tôi hưng vận khối-phục cơ-đồ, mở-mang đất nước, thì xin tạnh mưa và ban cho thứ gì ăn cho đỡ lòng quân-lính.” 

Thấy dứt lời, mưa liền ngớt tạnh, gió bỗng dừng im; ngài lấy làm mừng, mới truyền đi kiếm hoa quả gì ăn. Quân lính được lịnh, bỏ đi các ngả, tìm thấy một thứ cây, quả trắng nõn mọc từng chùm, liền hái về dâng. Ngài bóc xem, thấy vỏ mỏng có 5 múi, mùi thơm ngọt, liền cho tim thổ-nhân đến hỏi, mới hay là trái lòn-bon, ăn rất lành, ăn bao nhiêu cũng không say mà đỡ đói được.

Ngài dùng thử, quả như lời, liền truyền cho quân lính hái ăn, đều được no-nê khỏe e-mạnh. Ngài mới tạ ơn Trời, rồi đặt tên là “Nam-trân” nghĩa là  “trái quí ở Quảng-nam”. Ngài truyền rằng: hễ sau này khôi phục được giang-sơn thì thần dân nơi ấy phải đem dâng tiến đề nhớ lúc gian-nan.

Đến sau khi ngài định được thiên-hạ, lên ngôi hoàng-đế, đóng đô ở Phú-xuân, thần dân theo lời sắc của ngài, cứ mỗi năm mùa chính là tháng 8, nếu mua chính mất, thì mùa trái là tháng 2 tháng 3 phải đem Nam trân dâng tiến.

Hiện bây giờ ở núi Cửa-vườn và núi Lỗ-ô (về nguồn Ô-gia, Đại-lộc Thu-bồn Quế-sơn sắc giao cho ba làng sở tại là Tân-đạt, Hội-khách và Hữu-trinh canh giữ. Có đặt một người riêng để săn-sóc gọi là “Quân thủ Nam-trân”. Mỗi năm đến tháng 7 tên quân Nam-trân hiệp với chánh-tổng Phú-khê tổng sở-tại và kỳ bào ba làng trên xét xem hôm nào quả chín, hái được, trình trước với quan huyện Đại-lộc phải khám rõ-ràng, rồi mới bẩm tỉnh. Đến ngày hái, quan tỉnh Quảng-nam phái một viên quan hội-đồng với quán Huyện đi hái.

Ngày hái quả Nam-trân cũng nô-nức không khác gì một ngày hội: thuyền xe như nước, áo quần như nêm, vì không những người ở quanh vùng đó, mà cả người thiên-hạ cũng đua nhau đến xem và đến hái nhộn nhịp tưng-bừng.

Khi quan phái đến nơi, liền nổi ba tiếng thanh-la, thiên-hạ đua nhau chạy vào rừng, hễ ai chiếm được cây nào, thì mắc vào cành một vật gì để đánh dấu lấy phần, hoặc treo cái áo, cài cái khăn, buộc cái nón, đeo cái giỏ: tỏ ra cây ấy có chủ không ai được tranh-giành nữa.

Phần ai nấy hái, hái xong đem ra tại bến sông. Khi ấy tổng-lý chọn lấy ở mỗi người một vài chùm quả tốt gọi là “nạp xâu” còn bao nhiêu cho người hái được đem về tùy ý ăn hay bán. Sau đến lượt quan phái chọn lại một lần nữa: lựa những quả thật tốt, thật trắng, lấy độ ba bốn chục giỏ, mỗi giỏ độ 150 quả, lấy lá ủ kỹ lên cho mát để giữ cho tươi, rồi đệ về tỉnh tỉnh dâng về kinh đem tâu và tiến lên Thế-miếu, rồi mới ban cấp cho các quan ở Triều.  

2 Dân hai làng Vinh Quang và Dương Thiện cứu vua  

Trong một trận vua Gia-long giao chiến với Tây-sơn ở Qui-nhơn không rõ trận nào về năm nào, ngài thua to, chạy mãi về phương đông. Theo ngài chỉ còn vài người tâm-phúc. Chạy mãi tới bờ bể, cùng đường: mặt trước nước trời man mác, mặt sau quân địch đuổi theo, ngài đang luống cuống, tưởng khó mà trốn thoát. Bỗng ngài ta thấy một chiếc thuyền, ngài vội gọi, thì ra thuyền của dân hai làng Vinh-quang và Dương-thiện đi đánh cá. Thuyền ghé vào bờ, ngài và mấy người tùy-tùng xuống thuyền, thuật rõ lai-lịch và xin cầu cứu. Bọn chài lanh tri bảo mấy người vào nằm ép trong khoang, lấy lưới đắp lên trên, rồi lại tự-nhiên đánh cá. Quân Tây-sơn đuổi tới, gọi thuyền chở vào bờ, nhưng trông không thấy ai, liền theo ven bờ bể lùng tìm. Thế là ngài thoát nạn. Ngài liền nhờ ngay thuyền ấy chở vào Nam-kỳ. Nhưng đến cửa bể Qui-nhơn, gặp thuyền buôn nước mắm ở Phan-thiết ra, ngài bèn sang thuyền buôn, vì sợ thuyền đánh cá nhỏ không vượt nồi bề cả. 

Khi từ biệt, cảm cái ơn cứu mệnh, ngài muốn lưu dấu tích để ghi nhớ công ấn hàng ngày sau báo đáp, nhưng trong lúc lánh nạn trong mình không có vật gì để lại làm tin. Muốn viết mấy chữ, nhưng bút không có, mực thì không. Trong thuyền chỉ có cái chảo nấu ăn, ngài đành bảo lấy nước đổ vào trôn làm mực rồi cả hai tay xoa cho muội chảo dính đầy mới in vào một tờ giấy. Ngài bèn trao cho bọn chài hai làng tờ khoán in rõ 2 bàn tay ngài, và hứa khi nào khôi phục xong giang sơn, sẽ xóa thuế cho hai làng đó. Đến khi ngài lên làm vua, sắc trừ xưu thuế cho hai làng đời đời. Mãi đến năm 1928, không biết làm sao dân hai làng mới phải đóng thuế.

Hiện nay, hai làng Vinh-quang và Dương-thiện vẫn còn giữ được tờ khoán hai bàn tay vua Gia-Long.  

3 Cá sấu đón thuyền 

Mùa đông nắm bính-thân 1776, vua Gia-Long khi ấy còn làm Chưởng-sư tướng tả dực quân đem binh qua Long-xuyên, nhân đem muốn vượt bể để tránh Tây-sơn, bỗng có cá sấu đón ngang thuyền, không sao đi được. Như thế đến ba lần, ngài mới chịu thôi. Sáng hôm sau, cho quân dò xét, mới biết ngoài biển có quân Tây-sơn, vì thế ngái không bị khốn.

4 Không gió mà cây đổ 

Cũng năm bính-thân 1776, sau khi Thái-Thượng vương và Tân-chính vương bị hại, ngài chạy thoát vào được Long-xuyên, tụ-tập nha trảo cũ, khởi binh từ đây. Trong một trận đánh nhau với tướng Tây-sơn là Nguyễn Văn-Trương người huyện Lê-dương Quảng-Nam, có đởm-lược, ngài thua chạy. Trương đuổi theo kịp, ngài gần bị khốn thì bỗng dưng có một cây to không gió mà đổ, chắn ngang đàng. Trương lấy làm lạ, đem quân trở lại, không theo bức ngài nữa. Đến tháng 7 năm đinh-vi 1787, ngài ở Xiêm về đến Long-xuyên. Nguyễn Văn-Trương nghe biết, đem 300 binh và 15 chiến-thuyền lạy ở bên đàng xin theo. Ngài Tiền phong làm Khâm-sai chưởng-cơ coi đạo tiên phong quân thủy. 

5 Giả làm pho tượng  

Năm đinh-dậu 1777, Tây-Sơn Nguyễn Văn-Nhạc được chúa Trịnh-Sâm phong làm Tuyên-úy đại-sử Cung quận công trấn-thủ đất Quảng-nam, dảnh tay không phải phòng giữ mặt bắc, mới sai Nguyễn-Lữ và Nguyễn-Huệ kéo đại binh thủy bộ vào đánh Gia-định. Quan nhà Nguyễn chống không nổi, đại binh vỡ chạy. Cùng với hai viên cận thần, ngài chạy bộ lần vào trong đám loạn quân, thoát được ra ngoài bãi chiến-trường. Ba người chạy vào trong một con đàng đồng, thì trời đã tối. Hai bên ruộng nước mênh-mông mà quân Tây-sơn vẫn lùng tìm đuổi bắt rất gấp. Cánh đồng trơ-trọi, không có gò cao bụi rậm khả dĩ ẩn thân. Đương lúc luống-cuống, vắng nghe tiếng mõ tụng kinh đàng xa đưa lại. Ngài mới định thần nhìn về phía đó, thì thấy một cảnh chùa nhỏ dưới đám cây lơ-thơ. Ba người không biết tính Sao, đành liều chạy vào đó. Đến cửa, thấy cảnh mà thêm ngán, vì chùa nát bốn bức tường trồng hổng, đứng ngoài trông suốt được cả vào trong, không còn chỗ nào kín đáo mà ẩn-nấp. Trước bàn thờ Phật, một nhà sư có tuổi, bên ngọn đèn xanh, miệng tụng kinh, tay gõ mõ. Đến lúc túng, đành phải liều, ngài vội sấn vào trước mặt nhà sư, bạch rõ tình-thế và ra tay cứu giúp. Nhà sư dương mắt nhìn ba người, có ý ái-ngại, và trong khi nhìn ngắm, nhường ra chiều nghĩ ngợi kiếm kế cứu người lỡ bước. Bỗng nhà sư đứng phắt dậy, đắt ba người vào gần một chiếc hòm, mở lấy ra ba bộ cà-sa và mũ cánh sen, giục mặc cả vào, đưa ra cho bàn thờ Tổ, bảo khiêng ba pho tượng Tố xếp hàng dưới đất, rồi bảo ba người lên ngồi im nhắm mắt trên bệ giả làm pho tượng đất.

Ba người vâng lời, vừa lên ngồi xong, thì tiếng nhạc ngựa của quân Tây sơn cũng vừa đến cửa. Tướng Tây sơn đi thẳng vào chùa, gặp nhà sư liền hỏi một cách dữ dội hung hăng ra ý bắt nọn:

– Ta theo dõi ba nguời vừa chạy vào đây, nhà chúa chớ giấu giếm mà bị tội! Nhà sư chắp tay ôn tồn cung kính.

– A di đà phật. Cảnh chùa trống rỗng thể này, xin quan cứ cho lục tìm, “bần tăng đâu dám to gan oa-trữ”.

Viên tướng Tây sơn nghe nói, dương mắt nhìn quanh như có ý cho là phải, lại nhân tiện lấy măt lục tìm trong bóng tối, bỗng chạy vội lại gần bàn thờ Tổ chỗ ba pho tượng để dưới đất, rồi gọi nha sư mang đèn đến soi.  

Vua Gia Long và hai vị cận thần cùng nhà sư xiết bao hồi hộp, đinh ninh chắc không thể thoát được. Ai ngờ tướng Tây sơn bắt giữ đèn soi gần vào ba pho tượng đất, rồi như sợ ánh đèn quả nhỏ không tin ở sức mặt mình, liền rút thanh gươm gõ vào pho tượng mà hỏi:

– Sao lại để đây? 

Nhà sư cung-kính:

– Bẩm, chùa làng bên cạnh dột nát, sợ đổ, nên đem gửi nhà ba pho tượng đó.

Viên tướng nghe nói, “hư” một tiếng rồi nghếch mặt lên nhìn ba pho tượng giả ngồi trên bệ, cũng lại như có ý cho là phải, nên tuy trông mà không thấy, rồi hung hăng đi ra.

Tiếng nhạc ngựa đã xa, ba pho tượng giả mới dám xuống bệ, trong lòng hồi hộp chưa nguôi cơn sợ lúc vừa qua. Cảnh chùa đó ở Tân sơn như về vùng Gia-định, hiện chưa khảo được tên chùa là gì. 

6 Bầy rắn đội thuyền dẫn lỗi

Tháng tư năm nhâm dần 1782 vua Gia-long khi đó còn xưng vương sau khi thất thủ Sai-gòn, ngự thuyền chạy vào Hà tiên. Thuyền nhỏ ra biển đêm tối không biết lối đi, lại thêm sóng dữ; song tựa hồ như có vật gì đội dưới đáy thuyền, thuyền cứ đi. Mờ sáng mới hay là một bầy rắn, các quan theo đến sợ, ngài giục cứ chèo. Một chập sáng, rõ lối đi, bầy rắn tan hết. Thuyền ngự tới được cù lao Phú-quốc. 

7 Cá sấu đỡ trâu 

Lại cũng tháng tu năm quí mão 1783, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lại đem binh vào đánh. Ngài thua chay vào Tam phụ. Các quan chạy được theo còn có Nguyễn kim-Phẩm và 5, 6 người. Quân Tây-sơn đuổi theo đến sông Lật, giòng nước chảy mạnh, không có thuyền qua !. May ngày thường, ngài hay tập lội, nên gặp nạn, ngài liền lội qua sông.

Kịp chạy đến sống Đằng có nhiều cá sấu, ngài không dám lội. May có một con trâu nằm bên bờ sống, ngài liền cưỡi trâu lội qua, nước sông mạnh, trân suýt bị giòng nước cuốn, những sông có cá sấu đỡ trâu dẫn được vào bờ. Vì thế binh Tây sơn không đuổi kịp, ngài thoát nạn, chạy vào Mỹ-tho, thâu-thập ghe thuyền phụng đức Vương mẫu và càng quyến tới trú tại đảo Phú quốc. 

8 Cơn bão giải vây 

Tháng 7, năm quí mão 1783 ngài đem binh ra đảo Côn Lôn. Quận Tây sơn biết đem đại đội chiến thuyền vào vây bà vòng quan binh trùng trùng điệp điệp. Ngài tự liệu khó lòng thoát được, vì binh thuyền ngài ít không thể phá vây. Trời đang trong, sóng đang lặng, bỗng mây kéo đen tối, đến nỗi xa không trông rõ người, mưa gió ầm ầm làm nhiều chiến thuyền của Tây sơn chìm đắm! Thật là một cơn bão lớn. Nhân thể, ngài mới thúc thuyền vượt được vòng vây, chạy được tới cù lao Cổ-cốt rồi mới lại chạy về Phú quốc. Quân sĩ rất là vất vả, lại thêm lương thực hết phải ăn khoái đỡ lòng. Khi ấy, có một: người đàn bà buôn bán ở Hà-tiên tên là Thị Uyển dâng một thuyền gạo.

9 Giòng nước cứu mạng

Cùng tháng ấy, một hôm, ngài cho chèo thuyền ra cửa bề Ma-ly thám thính tình hình bên địch. Không ngờ gặp 20 chiếc thuyền Tây sơn; Ngài liền truyền kéo buồm chạy rông ra bể cả. Nhờ thuyền nhẹ chạy gặp gió, Tây sơn đuổi không kịp; nhưng ngài còn sợ chưa dám trở về, đành cứ lênh đênh trên mặt biển. Sau trong thuyền hết nước uống, quân sỹ nhốn nhao, ngài lấy làm lo: về, sợ Tây-Sơn; ở sợ khát; không biết làm thế nào, chắc phen này khó thoát, vì mênh mông bề cả làm gì có nước ngọt mà dùng !

Ngài không biết tính làm sao, đành chỉ ngửa mặt khấn Trời phù hộ, thì tự nhiên gió lặng sóng im, trên mặt bể hiện ra hai giọng trong đục rõ rệt, một người trong thuyền múc một ít nước trong, uống thấy ngọt liền la mừng. Ngài thấy vậy, lạy tạ Trời, rồi sau múc trữ lấy 4 ,5 chum nước ngọt. Múc xong một lúc, hai giòng nước lại hòa, nước ngọt mất. Nhân có sẵn nước dùng, ngài cử cho thuyền lênh đênh ngoài khơi tới 7 ngày đêm. Bên địch thấy lâu bỏ đi, ngài mới dám trở về Phú quốc.

Nhận hại chuyện trên đây 8e và 9e mà trong văn chương triều Nguyễn các bực văn hào hay dùng 4 chữ “Sơn phong hải lễ” để nói cái đức của vua Gia Long.

Trong bài văn tế trận vong tướng sĩ của quan Tiền công quận công Nguyễn văn-Thành đọc ở Thăng long để truy điệu các sĩ đã từng theo vua Gia Long đánh dẹp, có câu:

Trước từng-trả tiêm-la, Cao-Men về Gia-định mới dần ra Khánh Thuận, đã mấy buổi sơn phong hải lễ, giời Cao, Quang soi tỏ tấm kiên-trinh;

Rồi lại từ Đồ-bàn, Nam, Nghĩa lấy Phú-xuân mà thắng tới Thăng-long, biết bao phen vũ pháo vân thê, đất Lũng-thục lăn vào nơi hiểm cố. 

10 Nhờ con Nai mà sau hạ được thành Qui Nhơn 

Tháng 5 năm Kỷ-tị 1799 ngài đem quân vây thành Qui Nhơn khi ấy về tay Tây-Sơn. Vua Tây-sơn đóng ở Phú-xuân sai Trần Quang-Diệu và Vũ văn-Dũng đem binh vào cứu. Đi đến Quảng-nghĩa, dù biết binh của Nguyễn-văn-Thành đóng giữ ở Thạch-tân, Vũ-văn-Dũng liền cho đóng quân ở Chung-xá. Đến đêm, bỗng có con nai trong rừng chạy ra, có người trông thấy, kêu to lên: “Nai ! Nai !”. Quận Tây-sơn nghe, tưởng là quân Đồng-nai tức là quân chúa Nguyễn đến bất thình lình, phát hoảng-sợ luồng-cuống. Quân Nguyễn văn-Thành được tin, thừa thế tới đánh tan quân cứu-viện của Tây-sơn.

Quan Trấn-thủ Qui-nhơn là Lê văn-Thanh không thấy cứu bính đến, lại trong thành lương thực hết bên cùng các tướng mở cửa ra hàng: Ngài đem quân vào thành, liền đổi tên Qui-nhơn gọi là Bình-định.

Đồng thời với vua Gia-Long, bên Pháp có Na-Phá-Luân, bên Mỹ có Hoa-Thịnh-Đốn, đều là bực phi phàm, xuất chúng, đức cả, tài cao.

Vì có đức lại có tài, nên mới được nhiều người thần-phục; lương-dân giúp đỡ như bà thương-phụ Thị-Uyển, bạn chài Vinh-quang, Dương-thiện; anh-hùng phò-tá như Nguyễn văn-Thành, Lê văn-Duyệt, Võ Tánh, Ngô tòng-Chu v.v… Vì vậy bao nhiêu năm bô bá, gấp mười lần nguy hiểm, mà tấm lòng hoài bão vẫn không sờn, thật là đởm lược phi-thường, mới làm nổi những việc phi-thường, và mới gặp được nhiều việc phi thường đến thế.  

Vì ngài có chí kiên nhẫn, nên sau khi nhất thống tam kỳ, đại định thiên hạ, thời nhân có câu hát rằng:

“Hết lòng mở nước, trị dân, 

Đã nhiều bên vũ, bên văn cũng nhiều…”

LONG ĐIỀN

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn