Giá lạnh biết tùng bách, ôn dịch tạo anh tài

Newton, Shakespeare, và Leonardo da Vinci, ba người này có điểm gì chung? Họ đều đã từng trải qua những trận đại dịch, và họ đã tận dụng thời gian để chuyên tâm làm việc. Sau khi dịch bệnh qua đi, họ quay trở lại và đều tỏa sáng rực rỡ, tạo phúc cho nhân loại.

Newton: Những ngày đó là thời kỳ hưng thịnh nhất cho phát minh của tôi

Bệnh dịch hạch bùng phát ở Cambridge, Anh Quốc, năm 1665 là bệnh dịch từ khu vực London lan đến. Học viện Trinity College của Đại học Cambridge cũng đóng cửa. Tất cả các giáo sư, nhân viên, sinh viên và cư dân đều lánh ra ngoại ô để  “cách ly xã hội”. Vị học sĩ trẻ tuổi Isaac Newton là một trong số đó khi ông 22 tuổi. Ông trở về trang viên Woolsthorpe của gia đình tại địa phận hạt Lincolnshire, cách trường đại học 60 dặm về phía bắc. Newton sống ở đây trong khoảng hai năm.

Trang viên Woolsthroped ở quê hương của Newton (Ảnh:Claire Ward/Wikimedia Commons)

Trong một môi trường thanh tịnh, biệt lập này, Newton không phải lên lớp, cũng không có các hoạt động xã hội, càng không có điện thoại di động hay Internet. Nhưng thật ra đầu óc của ông không hề nhàn rỗi chút nào; ông có rất nhiều chủ đề muốn suy nghĩ và khám phá. Sự nghiên cứu chuyên sâu trong thời kỳ này đã thực sự đem lại kết quả rực rỡ. Về toán học, ông đã phát triển được các mô hình vi tích phân, hình học giải tích của thời hiện đại; thiết kế thí nghiệm để đo lường trọng lực, ấp ủ khái niệm định luật hấp dẫn. Ông cũng làm thí nghiệm quang học trong phòng ngủ. Ông khoan một lỗ nhỏ trên lá cửa chớp, để ánh sáng trắng chiếu vào; sau đó ông dùng lăng kính để quan sát những biến hóa màu sắc trong dải quang phổ được nhìn thấy.

Khi nhớ lại khoảng thời gian này, ông nói rằng đây là “những năm tháng diệu kỳ”. 

“Đó là thời kỳ vượt bực trong các phát minh của tôi, và sự tập trung sâu sắc của tôi đến toán học và triết học là chưa từng có.”

Ngài Isaac Newton (1642-1727) (Ảnh: Wikimedia Commons)

“Đại ôn dịch London” (The Great Plaque), bắt đầu từ năm 1665, lây lan trong khoảng từ năm 1665 đến năm 1666, một phần tư dân số Anh đã bị nhiễm bệnh và thiệt mạng. Đây là trận ôn dịch lấy đi sinh mệnh lớn nhất ở Anh sau dịch bệnh Cái chết Đen vào thế kỷ 14.

Năm 1667, sau khi trở lại Cambridge, ông Newton đã công bố số lượng lớn các luận văn và trở thành viện sĩ sáu tháng sau đó; hai năm sau ông trở thành giáo sư. Trong suốt cuộc đời của mình, ông tiếp tục nghiên cứu về các chủ đề như vật chất, thời gian, quang học, màu sắc, v.v.

Shakespeare: hoàn thành ba vở bi kịch trong giai đoạn lánh nạn 

William Shakespeare đã trải qua nhiều thời kỳ dịch bệnh trong đời, bản thân ông là một người sống sót sau bệnh dịch khi vừa được sinh ra. Khi dịch bệnh quét qua London, nhiều người thân của Shakespeare đã nhiễm bệnh và qua đời bao gồm cả con trai của ông.

Để tránh dịch lây lan, các rạp hát thường là những nơi đầu tiên bị bắt buộc đóng cửa. Nhà hát kịch Globe (Nhà hát Hoàn Cầu) ở London nơi Shakespeare diễn kịch đã bị yêu cầu ngừng diễn vào các năm 1593, 1603, và 1606. Theo tài liệu ghi chép lại, lúc cao điểm hơn phân nửa thời gian là không thể biểu diễn được. Đoàn kịch đành phải đi khắp nơi và biểu diễn ở nhiều làng khác nhau. Các thành viên trong đoàn đều cầu nguyện, chỉ mong rằng những ngôi làng họ đến chưa bị dịch bệnh lan tới, cũng có nhiều diễn viên đã phải rời bỏ đoàn để đổi sang nghề khác.

Trang bìa trong của “Tuyển tập các vở kịch của Shakespeare, First Folio” xuất bản năm 1623. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Lúc này, Shakespeare tập trung vào sáng tác. Các tác phẩm “Vua Lear”, “Macbeth”, và “Antony và Cleopatra” theo suy đoán có lẽ đều được hoàn thành vào thời gian này. Thời kỳ tránh nạn gian nan này cũng là thời kỳ sáng tác rực rỡ của ông.

“Vua Lear”

Khi Vua Lear (King Lear) của Vương quốc Anh về già, ông đem giang sơn phân cho con gái lớn và con gái thứ hai dựa trên những lời nói của họ về tình yêu thương dành cho cha. Công chúa thứ ba Cordelia, với tấm lòng lương thiện nhưng không biết nói lời ngọt ngào, đã khiến người cha tức giận, vì thế cha tước quyền thừa kế của cô. Sau này, hai cô con gái lớn không chịu thừa nhận cha, ngược đãi, lăng nhục cha. Vua Lear vô cùng hối hận và trở nên điên loạn, lao vào rừng và trong cuồng phong bão vũ ông đã gào lên “Báo thù! Bệnh dịch! Cái chết! Mê hoặc!” … Kết thúc câu chuyện, Cordelia đã bị sát hại trong cuộc tranh giành quyền lực của triều đình, và vua Lear cũng qua đời trong bi thương. 

Tác phẩm này được công nhận là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của Shakespeare.

Bức tranh sơn dầu “Vua Lear và chú hề trong rừng” (Ảnh: Phòng trưng bày Scotland/Wikimedia Commons)

“Macbeth”

Tướng quân người Scotland Macbeth là người ham muốn quyền lực, dưới sự xúi giục của vợ là phu nhân Macbeth, ông đã sát hại vua để soán ngôi. Trước khi Macbeth sát hại Vua Duncan của Scotland, ông đã rất do dự; ông sợ rằng “bệnh dịch sẽ ập đến những kẻ khởi lên âm mưu này”. Tuy nhiên không cưỡng lại được sự thúc giục và mỉa mai của vợ, ông đã ra tay tàn sát.

Trong vở kịch, cặp vợ chồng Macbeth một mặt ham muốn quyền lực, mặt khác thì lương tâm bất an, ma quỷ bức bách, cuối cùng hoảng hốt lo sợ. Bà phù thủy đã tiên đoán rằng khi Khu Rừng Đen chuyển động, đó sẽ là ngày Macbeth bị diệt vong. Kết quả là quân khởi nghĩa yêu cầu binh sĩ buộc cành cây rừng trên đầu để ngụy trang, nhìn từ xa trông như khu rừng đang chuyển động, vô cùng thần bí. Cho nên trong những năm đầu, vở kịch này còn được gọi là “Sự phục sinh của khu rừng”.

“Antony và Cleopatra”

Vị tướng của La Mã, Antony, vì mê đắm sắc đẹp của nữ hoàng Cleopatra mà cuối cùng quyết định từ bỏ đất nước và gia đình của mình, dẫn đến các cuộc chinh chiến. Antony xuất trận với đầu óc yếu nhược, dẫn đến thất bại và kết thúc bằng việc tự kết liễu đời mình. Thư thỉnh cầu đầu hàng của Cleopatra bị từ chối và bà đã tự vẫn bằng cách hôn lên con rắn độc. Người ta nói rằng nhiều khả năng bà đã bị vị tướng La Mã Octavius sát hại. 

Những câu chuyện này đã diễn giải sâu sắc rằng con người vì những tham vọng của mình mà rơi vào bi kịch. Nó cũng miêu tả một cách tỉ mỉ chân lý của thiện ác hữu báo, khiến con người tỉnh ngộ. 

Da Vinci: Vì dịch bệnh tàn phá MiLan mà quy hoạch đô thị

Câu chuyện tiếp theo đưa chúng ta đến Milan, Ý vào năm 1485. Vào thời điểm đó, họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà phát minh nổi tiếng Leonardo da Vinci làm việc cho Công tước Ludovico Sforza ở Milan.

“Triết gia giảng về Mô hình vũ trụ” (Philosopher Lecturing on the Orrery), vào khoảng năm 1776, bởi Joseph Wright of Derby. Tranh sơn dầu trên vải, 57.9 inch x 80 inch. Bảo tàng và Phòng trưng bày Nghệ thuật Derby, Anh. (Phạm vi công cộng)

Milan khi đó đang bị tàn phá bởi bệnh dịch hạch xảy ra khoảng từ năm 1484 đến 1485, khiến tổng cộng 50,000 người thiệt mạng, tương đương một phần ba dân số Milan.

Da Vinci đã tận mắt thấy được thảm trạng ​​của thành phố Milan chật chội, bẩn thỉu, và đông đúc bị bệnh dịch hoành hành; ông bắt đầu suy nghĩ làm thế nào để thay đổi cấu trúc quy hoạch đô thị, để thành phố có thể phục hồi và trở nên lành mạnh hơn trong tương lai. Các ý tưởng của ông bao gồm sự tích hợp của các kênh đào và đường nước ngầm, sự phát triển theo chiều dọc của thành phố đến những nơi cao, mở ra làn đường dành cho người đi bộ v.v.

Vào thế kỷ 15, Da Vinci đã hình dung ra nhiều vấn đề mà các thành phố lớn phải đối mặt. Từ các bản vẽ tay và các chú thích bản thảo của ông, có thể thấy rằng quy hoạch bao gồm: giao thông, đường nước ngầm, khu vực mới và cũ cùng tồn tại, sự phát triển về dân số v.v. Hơn nữa ông chú trọng nhiều hơn về sự sạch sẽ, tính thẩm mỹ, và hiệu quả. Mặc dù ý tưởng quá tiến bộ (trong con mắt thời đại khi đó) của ông không được thực hiện ngay lập tức, nhưng quy hoạch đô thị đương đại có rất nhiều điều để học hỏi. Việc kiến thiết lại Paris vào thế kỷ 19 và ý tưởng của Leonardo có điểm chung một cách kỳ diệu. Bậc thầy đa tài đa nghệ thời văn hóa phục hưng này một lần nữa chứng minh rằng những sáng kiến trác việt của ông đã đi trước thời đại nhiều thế kỷ.

Bản vẽ tay về dự án thành phố lý tưởng của Da Vinci. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Moli
Sương Sương biên dịch