Bài nghiên cứu này tác giả biết từ lâu, định dành in thành sách. Vừa rồi, trên báo Tiếng Dân bà Dân Báo có cuộc bút chiến về “Vấn đề thơ cũ, thơ mới” giữa hai ông Phan Khôi và Huỳnh Thúc Kháng. (Coi D.B ngày 26-6-41, 23-7-41, 24-7-41 và T. D, ngày 9-7-41, 6-8-41).

Sau cuộc bút chiến ấy, cũng như sau những cuộc bút chiến trước, người ta vẫn chưa biết rõ Thơ tự do hay là Thơ mới cũng vậy là gì.

Tri Tân đăng bài này, mục đích để giải thích về lối thơ tự do, cung cho các bạn đọc thân yêu một món nghiên cứu và bình luận.- T. T.

Định nghĩa thơ tự do. 

Trước khi nghiên cứu và bình luận về thơ tự do, ta hãy định nghĩa hai tiếng “thơ tự-do” Thợ tự-do là gì ?. Thơ tự do khác thơ cổ-thể thế nào ?

Mới đặt hai câu hỏi trên, ta tưởng như việc định nghĩa ấy rất dễ dàng.

Thơ tự do không cần số chữ nhất định, không trọng luật bằng trắc, nhiều khi không cần vần nữa, tóm lại, một thể thơ làm ra hoàn toàn theo tự do của thi sĩ.

Nếu giải như vậy thì thơ tự do là văn xuôi mất rồi, không ai còn phí công mà đặt cho nó một cái tên khác là “thơ” làm gì, và người ta cũng không dầu công nghiên cứu nữa. 

Mà đó cũng là cái lầm chung của một số động thi sĩ mới của ta. Nói như vậy có người lại cho tôi có ý bôi nhọ những thi sĩ ấy. Không. Tự nghĩ  “trong vườn thơ, mình chỉ là một người đi hóng mát, về phê bình thơ, mình chỉ là một tài tử”, tôi không tin tôi, có dịp gặp một nhà thơ là tôi đem câu chuyện thơ tự do ra đàm luận. Tôi đã nhận thấy rằng phần nhiều thi sĩ ta cẩu thả quá, chưa chịu nghiên cứu để hiểu thế nào là thơ tự do, cứ theo cái hình ngoài của thơ Pháp mà làm những bài thơ ta không nghĩa lý gì cả !

Quay về thời kỳ mà “ làng thơ là một nơi hỗn độn, ở đó ai cũng muốn tự tôn mình là “tao đàn nguyên súy” ta có thể nhặt được nhiều tài liệu quí báu cho ai khảo về sự tiến hóa của thơ ta sau này :

Ông Thái Phỉ trong báo Tin Văn, bằng một giọng gắt gao, phê bình các thi sĩ của ta: “Xét về tinh thần của thơ mới – xin hiểu là thơ tự do – nói rằng làm thơ mới không bị bó buộc,.. miễn là có vần thì thôi”.  

Ông Khái Hưng, trong báo Phong Hóa, bằng một giọng khôi hài đầy ý vị, tả bực thang mây của các nhà thơ tự do. Ông tự hỏi: “làm thơ tự do dễ hay khó ?” Ông trả lời: “chỉ độ vài giờ thôi” . Rồi ông tiếp:

“ Vì thế, kỳ bảo này, 

“ tôi lại 

“ Viết một cái văn vui, đại khái 

“ Cũng hằng thơ mới 

“ Nói thơ tự do thì có lẽ phải 

“ Hơn: vì cứ mỗi lần 

“ Gặp cần

“ Là tôi tự do xuống giòng, bất kỳ câu ngån 

“ Hay dài, từ một đến mười hai chữ. 

“ Như thế hẳn 

“ Chẳng khó khăn gì 

“ Mà bỗng dưng mình lại trở nên một nhà thi 

“ Sĩ. Rồi các nhà phê bình sẽ 

“ Tìm ra những cái hay của mình và có lẽ  

“ Tôn đùa mình lên bậc thi hào 

“ Thì mình cũng đành nhận chứ biết sao”.

Khi trào lưu thơ, tự do còn đang bồng bột, một thi sĩ lựa chọn một ít bài in thành tập. Bài tựa tập thơ ấy đã gây nhiều dư luận trái ngược nhau; một cuộc bút chiến khá kịch liệt giữa mấy nhà văn thường để ý đến những vấn đề văn chương. Người ta đã tưởng sau cuộc bút chiến ấy thế nào cũng được biết rõ về thơ mới hơn. Nhưng không ? Người ta không được biết thêm gì hết. Thơ mới vẫn ở trong một sự lông bông vô định. Một điều lạ nhất là những thi sĩ mới đã có tiếng ở xứ ta, vẫn lặng thinh trước cuộc bút chiến trên địa hạt thơ. 

Trở lại với việc định nghĩa mấy tiếng thơ tự do của chúng ta. Thơ cũ – hãy chỉ nói riêng về hình thức, – có thể chia làm hai loại: thơ Đường và thơ cổ thể (cổ thể đây rộng nghĩa và khác với cổ thể bên Tàu)  

Thơ Đường là những thơ làm theo luật có ở bên Tàu từ đời nhà Đường (618 – 906). Những luật về thơ ấy rất chặt chẽ ; vì vậy từ trước đến nay thơ ấy đã được coi như một thể văn cao nhất trong văn chương, chỉ dành riêng cho những bực trí thức.

Chắc các bạn nhớ hết những luật ấy. Tôi chỉ cần nhắc lại những luật có ích cho sự bình luận sau này.

Trong thơ ngũ ngôn, tứ tuyệt hay bát cú, về thế bằng hay thể trắc , những tiếng hai ba bốn năm phải theo đúng luật bằng trắc; tiếng thứ nhất có thể bằng hay trắc.

Hai sự “ xuất qui ” về thơ ấy tóm tắt trong hai câu: “ nhất bất luận, nhị tạm ngũ phân minh; nhất tam bất luận, nhị tứ ngũ lục thất phân minh ”. Trong thơ thất ngôn có người cho sự “ xuất qui ”  ấy lan ra đến tiếng thử năm nữa. “Nhất tam ngũ bất luận nhị tứ lục thất phân minh”

Thể thơ thứ hai, thơ cổ thể, có những vần (vần hai, vần tứ vần lục bát, vần thất ngôn, vần song thất lục bát) vè, chuyện.

Về thể thơ này, cũng có sự bó buộc về vần và luật bằng trắc nhưng ta cũng vẫn có những sự xuất-qui. Vần lục bát, câu sáu: Nhất, tam, ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh; câu tám: nhất tam, ngũ, thật bất luận, nhị tứ lục phân minh.  Những tiếng đứng về hàng lẻ có thể trắc hay bằng, những tiếng đứng về hàng chẵn phải theo luật sau này: những tiếng hai bốn sáu phải một tiếng bằng cách một tiếng trắc, đến một tiếng bằng hay trái lại:

“ Đêm khuya, thân gái, dặm trường, 

Phần e đường cả, phần thương dãi dầu ”

1 2 3 4 5 6

(B) (T) (B) 

1 2 3 4 5 6 7 8

(B) (T) (B) 

Một giả thuyết: 

Một sự nhận xét là vẫn theo luật chính. Biết lợi dụng những sự “ xuất qui ” ở và sự tự do về thanh người ta có thể sáng tạo ra được một điều mình muốn, nhưng vẫn na ná giống điệu những bài đúng luật, cho bài thơ của mình. (1)

Sự nhận xét thứ hai can hệ hơn? Nếu người ta cho sự xuất qui lan ra một tiếng khác trong những tiếng “ phân minh ” , thì câu thơ thất luật thật, nhưng không đổi mấy và có khi lại có một nhạc điệu rất quí nữa. Một thí dụ: Ta hãy đọc hai câu Kiều kể trên và khi đọc ta chỉ để ý đến nhạc điệu: 

“ Đêm khuya, thân gái, dặm trường, 

Phần e đường cả, phần thương dãi dầu ”

 Bây giờ ta lại đọc lại, và cũng chỉ để ý đến nhạc điệu, hai câu ấy đổi như sau này:

Đêm khuya, thân gái, dặm trường, 

Phần e đường bằng, phần thường bằng dầu.

Nghe hai câu ta tưởng như tiếng “ đục ” của một giây tơ chùng.

Từ nhận xét thứ nhất, với những sự xuất qui về âm và thanh, thi sĩ đi đến sự nhận xét thứ hai, với một sự giải phóng nhỏ. Từ nhận xét thứ hai, thi sĩ có thể đi đến một cuộc cách mệnh hoàn toàn về âm thanh, thi sĩ không còn chịu đem bài thơ của mình đúc vào cái khuôn bằng trắc nữa.

Một thể thơ ra đời, tôi xin tạm gọi là thơ “giải phóng”  (sers libérés).

Thơ giải phóng có thể có tự một tiếng đến mười hai tiếng (tôi sẽ nói tại sao) và hơn nữa cũng được. Nhưng tất cả những câu thơ trong một bài thơ cũng có một số tiếng bằng trắc đặt theo điệu mình lựa chọn, không cần đối, vần ép cũng được.

Như tôi đã nói trên, từ câu thơ cũ hoàn toàn đúng luật, người ta đã đi đến câu thơ giải phóng. Theo biến thể của nó, ta tuởng không có sự gì tự nhiên bằng. Một nước có những nhân tài đã sáng tác ra những điệu thơ mới như từ, khúc; ca trù, song thất lục bát mà lại không có ai dám táo bạo tổ chức sự giải phòng cho thi ca ấy hay sao? Thế mà không. Tiền thân ta không dám nghĩ đến công việc ấy, bao nhiêu năm vẫn khư khư đúc tư tưởng của mình trong khuôn sáo cũ, hoặc có nghĩ thì chỉ nghĩ thoáng qua ! Vì vậy những câu thơ không theo luật bằng trắc như cầu: 

“ Một đèo, một đèo lại một đèo “.

(Xuân Hương)

chỉ coi là những sự kém trong nghệ thuật, những câu thơ làm ép, hoặc làm ra vì nghịch mà thôi.

Khi nghĩ đến nghệ thuật một cách đúng đắn, người ta lại phải trở về với khuôn khổ cũ. (Còn nữa)

LÊ-THANH 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Người ta phân biệt hạt thứ tiếng bằng thượng bình, những chữ không có dấu và hạ bình những tiếng có dấu huyền và ba thứ tiếng trắc, trắc thượng thanh (,) trắc khử thanh (?) trắc nháp thanh, những tiếng tận cùng bằng những chữ C, ch, p, t,. Sự phân biệt ấy rất quan hệ một tiếng bằng hay trắc có thể là thượng bình hay hạ bình v.v…

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn