“Làm thế nào để chúng ta kết hợp các từ cũ theo thứ tự mới để chúng tồn tại, để chúng tạo nên vẻ đẹp, để chúng nói lên sự thật?” 

Đây là một câu hỏi về cuộc sống của bà Woolf, là hành trình khám phá trong cuộc đời của bà, và là chất xúc tác cho yếu tố thiên tài hiện diện trong bà. Bà đã rất trăn trở với nó, và bà không bỏ cuộc cho đến khi sự thật và cái đẹp bằng cách này hay cách khác ban phước cho bà. “Khi tôi viết, tôi luôn luôn, luôn luôn nói sự thật,” bà hồi đáp một người bạn khi người ấy gợi ý rằng bà có thể làm khác đi. Trong các bức thư, nhật ký, và tiểu thuyết của bà, sự trăn trở này chưa bao giờ kết thúc.

Virginia Stephen thời trẻ và chị gái Vanessa. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Nhật ký

Nhật ký của bà Virginia Woolf dày 6,873 trang, ấn bản của Harcourt Brace Jovanovich, cho chúng ta biết những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc nhất của bà. Những trang nhật ký này không dành cho chúng ta, và bà đã yêu cầu chồng bà đốt chúng sau khi bà qua đời. Chúng có lẽ chứa đựng những điều xa vời nhất trong tâm trí bà, những điều đẹp đẽ nhất, cũng như những quan điểm rất chân thật và riêng tư của bà về những người đương thời.

Chẳng hạn, bà đã bị tai tiếng khi nêu ra quan điểm về cuốn “Ulysses” rất thành công của James Joyce, mà bà cho rằng nó tôn vinh những điều xấu xa và là một cuộc tấn công đơn phương vào văn học truyền thống mà bà tôn kính: “Đối với tôi đó là một cuốn sách kém cỏi về văn chương, nửa mùa, tự phụ, khoe khoang… Ý tôi là, một nhà văn hạng nhất đã quá quan trọng việc viết lách đến mức trở nên lươn lẹo; gây sửng sốt; phô trương.”

Một người bạn thân từng nói với bà: “Chỉ có cái chết của cậu mới là thứ cậu không thể diễn tả được!” Tất nhiên là đúng, nhưng bà đã mô tả chứng trầm cảm thường xuất hiện ở các thiên tài mà chưa ai từng làm. Như Tolstoy, Handle, Beethoven biết rất rõ về nó, nhưng không ai để lại chi tiết nào. Bà Virginia Woolf đã viết về nó như sau: 

“Tôi thức giấc, có lẽ khoảng 3 giờ sáng. Ôi, nó bắt đầu tới – nỗi kinh hoàng – nỗi đau đớn về thể xác như một cơn sóng trào dâng tận tâm can, hất tung tôi lên. Thật không vui, không vui chút nào! Tôi chìm xuống, Chúa ơi, tôi ước gì mình đã chết… Điều này vẫn tiếp diễn, nhiều lần với đủ loại sợ hãi. Sau đó, khi cơn khủng hoảng thay thế nỗi đau dữ dội, mọi thứ bỗng trở nên khá mơ hồ. Tôi thiếp đi. Và thức giấc với một sự khởi đầu.” 

Trong một đoạn khác, bà kể với chúng ta về quá trình tìm kiếm “một điều gì đó” mà chúng ta ước mình có thể: “Tôi tận hưởng gần như tất cả mọi thứ. Nhưng trong tôi luôn tìm kiếm không ngơi nghỉ. … Tôi ngắm nhìn những đỉnh núi trên bầu trời: những đám mây khổng lồ; mặt trăng mọc trên Persia; Tôi cảm thấy một điều vĩ đại và đáng kinh ngạc ở nơi đó, mà tôi gọi là ‘nó’? … Tôi thường xuyên bắt gặp ‘nó’; và tôi cảm thấy khá thanh thản.”

Hai cuốn nhật ký của Virginia Woolf. (Ảnh: Harcourt Brace Jovanovich)

Những lá thư 

Người ta sẽ thấy ấn tượng trong cách bà trả lời các bức thư, nó phản ánh một điều gì đó ở con người bà. Chẳng hạn, người ta sẽ cảm thấy sự ấm áp, dịu dàng trong các bức thư bà gửi chị gái Vanessa, và rồi là một tính cách lạnh lẽo hơn trong những bức thư gửi Vita Sackville-West lạnh lùng và kiêu hãnh. 

Bức thư gửi Sackville-West được trích dẫn dưới đây cho thấy về quá trình sáng tạo của bà Woolf, một điều gì đó quá riêng tư để nói với công chúng nhưng lại dễ dàng nói với một người bạn hiểu biết và đáng tin cậy:

“Phong cách là một vấn đề rất đơn giản; nó là nhịp điệu. Một khi bạn hiểu được điều đó, bạn sẽ không thể dùng sai từ… Nó sâu thăm thẳm, nhịp điệu ấy, và sâu sắc hơn bất kể điều gì diễn tả bằng lời. Một cảnh tượng, một cảm xúc tạo nên một làn sóng trong tâm trí rất lâu trước khi trở thành ngôn từ phù hợp; và trong khi viết người ta phải nắm bắt được nó; và sau đó khi cơn sóng vỡ ra và cuộn trào trong tâm trí, nó sẽ sắp xếp thành các từ phù hợp.” 

Những ngôn từ này khiến chúng ta hiểu rõ hơn về chiều sâu của tâm hồn và trí tuệ của bà Woolf hơn bất kỳ điều gì được tìm thấy trong các tác phẩm được xuất bản của bà. 

Một cuốn nhật ký bao gồm những bức thư viết trong 2 năm của  Virginia Woolf. (Ảnh: Harcourt Brace Jovanovich)

Tiểu thuyết ngắn

Bà có những tác phẩm ngắn, thậm chí rất ngắn, nhưng chưa bao giờ nói về những điều tầm thường – nó thường đề cập đến những vấn đề ẩn chứa trong cuộc sống của mỗi người, những điều kỳ diệu vốn có của cuộc sống. Thật dễ dàng để chúng ta quên đi những điều không có khả năng xảy trong sự tồn tại của chúng ta, sự đan xen vô hạn của những sự kiện tạo nên hoàn cảnh của chúng ta mà chúng ta gọi là “chính mình”.

Tác phẩm “In the Orchard” (Trong Vườn Cây) là một câu chuyện chỉ có năm đoạn, miêu tả cảnh Miranda đang ngủ dưới một gốc táo. “Táo ở trên cao cách đầu cô 4 feet. Âm thanh của cây đàn organ trong nhà thờ được gió thổi qua các ngọn cây trong khi Miranda nằm ngủ ở phía dưới 30 feet.” Cách cô ấy 200 feet, “tiếng chuông kêu” gọi tín đồ đến phụng sự. Gió lướt qua, “mù quáng, khờ dại, không ai có thể chống lại nó”, trong khi “hàng dặm phía dưới, ở một không gian lớn chỉ như lỗ kim, Miranda đứng thẳng lên và gào lớn, ‘Ôi, tôi bị muộn giờ dùng trà rồi!’”

Bức chân dung Virginia Woolf được chụp bởi George Charles Beresford năm 1902. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Tiểu thuyết

Trí nhớ là một nhà phê bình đáng tin cậy; nó được dùng để gợi nhớ những đoạn hay nhất trong tiểu thuyết của bà, những đoạn đã đi sâu vào tâm trí tôi. Những chủ đề sâu sắc, và những ấn tượng rất mạnh mẽ. 

Trong “The Voyage Out” (Cuộc Du Hành), chàng trai trẻ nếm trải nỗi cay đắng của sự mất mát; vợ sắp cưới của anh bị bệnh nặng. “Anh không thể quen với nỗi đau của mình; đó là điều anh phải chấp nhận. Anh chưa bao giờ nhận ra điều này trước đây, rằng ẩn sâu trong sự việc diễn ra thường ngày, ẩn sâu trong cuộc sống mỗi ngày, nỗi đau đã nằm yên đó, âm thầm, nhưng sẵn sàng nuốt chửng anh; anh dường như có thể nhìn thấy sự đau khổ; nó như một ngọn lửa, nằm cuộn tròn trong mọi ngóc ngách của mỗi hành động, gặm nhấm cuộc sống của những người đàn ông và những người đàn bà. Lần đầu tiên trong đời anh suy ngẫm và hiểu sâu sắc những từ mà trước đây dường như rất trống rỗng với mình: Sự vật lộn trong cuộc sống, sự khắc nghiệt của cuộc sống.”

Trong “The Waves” (Con Sóng), tình yêu xuất hiện: “Đúng, thời gian trôi qua và chúng ta đã già đi. Nhưng để ngồi với em, với mình em, tại đây nơi thành phố London này, trong căn phòng rực rỡ ánh sáng này, em ở đó, tôi ở đây; thế là đủ… Khi em đến, mọi thứ thay đổi. Khi em đến đây sáng nay, những chiếc ly và đĩa cũng thay đổi. Không nghi ngờ gì nữa… cuộc sống tầm thường của chúng ta, không đẹp đẽ như chúng biểu hiện, đã khoác lên mình vẻ lộng lẫy và chỉ có ý nghĩa dưới con mắt chan chứa tình yêu.” 

Diễn tả một cuộc sống cao hơn, siêu việt hơn là trọng tâm của cuốn “The Years” (Những Năm Tháng). Một người phụ nữ trở về tụ họp với bạn bè sau 30 năm sống ở hải ngoại. Họ gặp nhau tại một bữa tiệc, và khi ở đó, cô đã tự rút ra kết luận: “Phải có một đời sống khác; cô nghĩ… không phải trong mơ, mà tại đây ngay trong căn phòng này, cùng với những con người thực tại này… Cô như gần nắm bắt được thứ gì đó vừa thoát khỏi tầm tay của cô. Phải có một đời sống khác, ở đây và bây giờ, cô nhắc lại. Cuộc sống thật quá ngắn ngủi, quá mong manh. Chúng ta không biết gì hết, thậm chí là về chính mình. Chúng ta chỉ vừa mới bắt đầu hiểu ra từng chút một, cô nghĩ.” 

Thiên tài có thể trở thành bất tử khi chia sẻ tầm nhìn của mình thông qua các bài hát, bức tranh, danh ngôn, và thông qua vẻ đẹp của sự thật. “Làm thế nào để chúng ta kết hợp các từ cũ trong một thứ tự mới để chúng tồn tại, để chúng tạo nên vẻ đẹp, để chúng nói lên sự thật?” một lần nữa chúng ta lại nghe bà Virginia Woolf hỏi, trên BBC. Đó là một câu hỏi, nhưng với bà đó cũng là một lời kêu gọi. 

Những dòng cuối cùng trong cuốn “To the Lighthouse” không thực sự viết về cô họa sĩ nghiệp dư Lilly Briscoe, mà là về chính tác giả Virginia Woolf: “Cô vẽ một đường thẳng ở chính giữa. Nó đã hoàn thành. Đúng, cô nghĩ, đặt cây cọ vẽ của mình xuống… Ta đã tìm ra lý tưởng của chính mình.”

Raymond Beegle
Thuần Thanh biên dịch