MINH BẢO

Khởi đầu từ triều vua Đinh Lê, nước ta đã thành một nhà nước quân chủ độc đáo Nho Phật cùng trị quốc, đem đến một nền chính trị xuyên suốt hai triều Lý Trần. Trần Nhân Tông, một vị hoàng đế Thiền sư đắc đạo là tinh hoa của nền chính trị ấy.

Sinh ra trong một thế kỷ đầy biến động với sự trỗi dậy của nhà Nguyên Mông và sự suy tàn của nhà Tống, vận mệnh Đại Việt trước nguy cơ như chỉ mành treo chuông. Ấy vậy mà vị Thái tử nhà Trần, người mà từ nhỏ chỉ nhất mực muốn đi tu lại có thể bình thản ứng phó hai cuộc xâm lược khổng lồ từ phương Bắc, đưa đất nước bình an vượt qua giông bão và thịnh trị trở lại. Đến cuối đời, ông từ bỏ ngai vàng, toàn tâm toàn ý tu hành để cứu đời độ nhân và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Người mà có thể vừa là vua, vừa là thi nhân, thiền sư đắc Đạo, chỉ có thể là Phật Hoàng Nhân Tông.

Duyên lành đặt định, Kim Phật giáng sinh

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (陳昑), sinh năm 1258. Ông là con trai đầu lòng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thị Thiều. Thời nhà Trần kế tục truyền thống sùng Phật tôn Nho của nhà Lý và nâng cao hơn một bậc khi tất cả các vua giai đoạn đầu đời nhà Trần đều tu hành tinh tấn. 

Trải hai đời vua ông và cha đều là bậc chân tu. Vua lên ngôi năm 1278, lấy niên hiệu Thiệu Bảo. Từ bé trước khi sinh ra, ông đã mang trên mình những thọ ký của một bậc tu hành định trước đời này làm nên sự nghiệp to lớn.

“Trước kia Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh từng mùng thấy thần nhân trao cho hai thanh kiếm, bảo: Thượng đế có sắc, cho ngươi tự chọn lấy! Thái Hậu bất chợt bật cười, bổng được cây kiếm ngắn, do đó có thai. Gặp tháng dưỡng thai, bà chẳng chọn lựa món gì kỵ thai, nhà bếp dâng lên món chi bà cứ ăn mà thai vẫn không sao, bà biết là có sức thần trợ giúp. Đến khi Ngài sinh ra, sắc như vàng ròng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Bên vai phải của Ngài có nốt ruồi đen như hạt đậu to, những người xem biết, nói: Ngày sau ắt hay gánh vác việc lớn.” (Thánh đăng ngữ lục)

Nhất tâm hướng Phật, phú quý tựa mây trôi

Do Thiên mệnh đặt định Ngài sẽ là người chân tu có quả vị nên dù sống trong cung vàng điện ngọc và là Thái tử kế thừa ngôi báu, tâm của Ngài vẫn chỉ một mực hướng về tu hành.

Cố từ chối ngôi vị Thái tử, gắng nhường cho em.

“Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng Thái Tử, Ngài cố từ chối mấy lần, xin cho em mình thay thế đều không được vua cha chấp nhận. Thánh Tông cưới trưởng nữ của Quốc mẫu Nguyên Từ cho Ngài, tức Thái hậu Khâm Từ. Tuy sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc mà tâm Ngài vẫn hướng về đường tu.”

Bỏ cung điện trốn vào núi đi tu nhưng không thành:

“Một hôm, vào giữa đêm Ngài vượt thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người quá mỏi nhọc, vua bèn vào nằm nghỉ trong Tháp. Vị tăng trong chùa thấy dáng mạo Ngài khác thường, ông làm cơm thết đãi. Hôm ấy, Thái Hậu đem trình bày hết cho Thánh Tông nghe, vua liền sai quần thần đi tìm khắp nơi, bất đắc dĩ Ngài phải trở về.”

Thần Phật triển hiện, nhắc người mau tu hành:

“Tới khi lên ngôi, dù ở trong cảnh vinh hoa tột bực, nhưng Ngài vẫn tự giữ mình thanh tịnh. Có lần Ngài ngủ trưa trong chùa Tư Phúc ở đại nội, chợt mùng thấy từ nơi rốn mọc lên hoa sen vàng, lớn như bánh xe, trên hoa có đức Phật vàng, một người đứng bên cạnh chỉ Ngài, nói: Biết đức Phật này chăng? Đức Phật Biến Chiếu đấy! Ngay đó, Ngài liền giật mình tỉnh dậy, đem điềm mùng trình lên vua cha. Thánh Tông rất mừng cho là việc khác thường. Do đó, Ngài thường ăn chay lạt, thân thể ốm gầy, Thánh Tông thấy lạ bèn hỏi. Ngài thưa thật nguyên do với vua cha. Thánh Tông khóc, bảo: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao? Ngài nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt.” (Thánh đăng ngữ lục)

Thi nhân tài năng, những vầng thơ Thiền bất hủ

Khi giặc Nguyên – Mông xâm chiếm Đại Việt, năm 1282, Ngài đã trực tiếp lãnh đạo người dân Đại Việt hai lần đẩy lùi quân Nguyên – Mông vào các năm 1285 và 1288. Không những là một vị vua anh minh, giỏi đánh trận, Trần Nhân Tông còn là một vị thi nhân tài năng và một thiền sư đắc Đạo nổi tiếng. 

Đứng trước nét đẹp bình yên của một cảnh hoàng hôn tịch mịch nơi thôn dã, thi nhân Trần Nhân Tông đã viết:

Thiên Trường vãn vọng

Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên

Bán vô, bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền.

Bản dịch:

Trước xóm sau thôn tựa khói lồng

Bóng chiều man mác có dường không

Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng 

(Ngô Tất Tố dịch)

Bản thân là hoàng đế tôn quý với trách nhiệm nặng nề, Trần Nhân Tông luôn dùng yếu chỉ của Thiền để giữ cho tâm mình thanh tịnh. Có lẽ quốc gia được bình yên hay chiến thắng cường địch cũng là từ cái tâm thanh tịnh của bậc quân chủ vậy. Bài thơ dưới đây giúp ta có thể cảm nhận được điều ấy.

Cư trần lạc đạo phú

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

Bản dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền

Lên ngôi báu từ lúc còn trẻ, lại phải gánh vác nhiều đại sự triều chính, thật khó mà viên dung được cuộc sống của một vị vua và lẽ sắc không của Phật Đà. Vậy mà ngài vẫn kiên trì tu tập cho đến khi có thành tựu, quả thật đáng khâm phục.

Xuân vãn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung

Như kim khám phá đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

Bản dịch:

Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không

Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng

Chúa xuân nay đã thành quen mặt

Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng 

(Ngô Tất Tố dịch)

Thiền sư đắc Đạo, những giai thoại còn lưu truyền

Từ những giai thoại truyền kỳ và nếp sống đặc biệt của Trần Nhân Tông thuở nhỏ, ta có thể thấy rằng ông chính là một người mang Thiên mệnh đặc biệt. Không chỉ là làm vua đem lại hạnh phúc cho muôn dân, mà ông còn phải tu thành Đạo, để lại cho đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Những câu chuyện về hành trình tu học của ông có lẽ còn truyền kỳ hơn cả những chiến công chống giặc lừng lẫy.

Khi vua cha ngài là Trần Thánh Tông cũng là một thiền giả sắp mất, thân thể vô cùng đau đớn chống chọi những giây phút cuối cùng. Sự hấp hối khó khăn đó làm cho ông không thể bảo toàn tâm thanh tịnh để chờ đợi cái chết. Trần Nhân Tông khi đó còn trẻ nhưng đã có căn cơ tu tập vững chắc, ngài đã nhẹ nhàng dùng bài kệ của thiền sư Vĩnh Gia nhắc vua cha, khiến cha ngài đại Ngộ mà ra đi thanh thản.

“Rồi vua đuổi hết kẻ hầu hạ, chỉ còn một mình Nhân Tông đứng hầu một bên, thưa:

– Bệ hạ còn nhớ lời của ngài Vĩnh Gia chăng?

Liễu liễu kiến vô nhất vật

Diệc vô nhân hề diệc vô Phật

Đại thiên sa giới hải trung âu

Nhất thiết Thánh Hiền như điện phất

Nhậm thị thiết luân đảnh thượng triền

Định tuệ viên minh chung bất thất

Tạm dịch:

Rành rành thấy, không một vật

Cũng không người chừ, cũng không Phật

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp

Dẫu cho vòng sắc trên đầu chuyển

Định tuệ sáng tròn vẫn không mất

Vua nghe xong, bất chợt cười lên rồi gõ chiếc gối tụng:

Rành rành thấy, không một vật

Cũng không người chừ cũng không Phật

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp

Xong, ngay chiều hôm đó sấm gió nổi dậy, thấy một vầng ánh sáng tròn rọi nơi bức vách ngăn, vua liền băng hà, hưởng thọ 51 tuổi, nhằm ngày 22 tháng 05 năm Canh Dần (1290). (Thánh đăng ngữ lục)

Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm, nhường ngôi cho con, hoàn thành nghĩa vụ hoàng đế, Ngài liền vào núi tu hành thỏa nguyện từ lúc bé. Sau khi đắc Đạo, ngài rời núi và đi khắp nơi thuyết Pháp độ tăng, dạy dân chúng tu hành. Cả triều đình từ vua đến quan hầu như đều theo gương ngài mà tu tập Phật pháp, thọ giới quy y Tam Bảo.

Những Thiền sư đắc Đạo như Trần Nhân Tông sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình ở trần gian đều sẽ biết trước ngày mình sẽ ra đi. Giai thoại phút lâm chung của Trúc Lâm Yên Tử còn lưu lại đến nay cho chúng ta thấy sự kỳ diệu của Phật pháp vậy.

“Ngày 20, Bảo Sát trên đường đi xuống, đến Doanh Tuyền thì thấy một đám mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn rồi hạ thấp xuống Doanh Tuyền, nước bỗng đầy tràn, dâng cao lên mấy trượng. Giây lát, mặt nước lặn xuống như bình thường, Bảo Sát thấy hai con rồng đầu to như đầu ngựa, ngẩng đầu lên cao hơn trượng, hai mắt như sao sáng, chốc lát thì lặn xuống. Từ đó, suốt mấy ngày liền trời đất u ám, gió trốt nổi dậy, mưa tuyết phủ lấp cả cây cối, vượn khỉ vây quanh am gào la, chim rừng kêu thảm thiết.

Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý. Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi!

Bảo Sát hỏi: “Tôn Đức đi đâu?”

Điều Ngự đáp:

“Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt,

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?”

Bảo Sát thưa: “Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?”

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo: “Chớ nói mớ!”

Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch. Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am Ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc che trên giàn hỏa.

Ngày thứ tư Tôn giả Phổ Tuệ (Pháp Loa) từ núi Yên Tử vội vã đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong, Pháp Loa thu lấy ngọc cốt, được xá lợi năm màu hơn năm trăm hạt lớn, còn hạt nhỏ cỡ hạt lúa hạt cải thì nhiều vô kể. Vua Anh Tông, Quốc phụ Thượng Tể cùng đình thần đem thuyền rồng đến lễ bái dưới chân núi, gào khóc vang trời, sau đó đón ngọc cốt và xá lợi xuống thuyền rồng đưa về kinh. Từ triều đình cho đến thôn quê đều rất mực thương tiếc.” (Thánh đăng ngữ lục)

Lời bình:

Xưa vua Thuấn ba lần từ chối ngai báu, cai trị bằng nhân đức, không dùng đến binh đao mà bốn phương quy phục, dựng nên cơ nghiệp thịnh trị muôn đời mà hậu thế vẫn còn mãi ngưỡng vọng. Mấy nghìn năm đã qua, mấy ai còn biết đến thánh nhân trị đời là thế nào? Mà nay một cõi nước Nam xa xôi nhỏ bé, lại có bậc Thánh nhiều lần muốn từ bỏ ngai vàng mà đi tu, dùng một nhúm quân nhỏ bé mà hai lần đẩy lùi quân xâm lược Nguyên Mông vốn đang làm rung chuyển thế giới.

Bằng sự tu tập bản thân mà khiến cả triều đình và nhân dân sùng thượng Chính Pháp, làm lành lánh dữ. Chỉ bằng chân trần vân du hóa độ chúng sinh mà hóa giải binh đao hai nước, thêm vào lãnh thổ hai châu. Thế mới hay để trị quốc làm nên sự nghiệp vĩ đại nghìn năm thì người lãnh đạo đều không phải vì bản thân mà cầu danh cầu lợi. Vì sao mà Phật gia giảng “Không”, Đạo gia giảng “Vô”, bởi vì tinh thần vô dục vô cầu mới có thể đạt đến trí huệ to lớn nhất và thành quả tốt đẹp nhất.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn