LORRAINE FERRIER

Không gì đẹp bằng tranh hoa tĩnh vật Hà Lan thế kỷ 17. Những đóa hoa rực rỡ, tươi sáng cắm trong bình hoa lộng lẫy, điểm thêm hình ảnh côn trùng và trái cây căng mọng là chủ xuyên suốt trong các bức tranh. Tuy nhiên, vào những năm 1600, thể loại mới này bao gồm một loạt các phong cách đa dạng khác nhau như vẽ hoa tả hay cách điệu; bất kể kỹ thuật của họ là gì thì tất cả các nghệ sĩ vẽ tĩnh vật hoa đều thể hiện sự chân thành với thiên nhiên.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Hoa trong bình đất sét”, năm 1607, Jan Brueghel  the Elder. Sơn dầu trên bảng gỗ; 51 cm x 40 cm. Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna. (Ảnh: Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna)

Có thể kể đến các họa sĩ nổi tiếng về dòng tranh này vào giai đoạn từ năm 1600 đến 1730 như Ambrosius Bosschaert, Jan Davidsz de Heem, Willem van Aelst và Rachel Ruysch… 

Nghệ thuật vẽ thực vật

Vào khoảng năm 1600, trào lưu vẽ tranh tĩnh vật hoa rất phát triển. Vào thế kỷ 16, việc trồng, nghiên cứu và thu thập các loài thực vật và hoa lạ đã trở thành xu hướng phổ biến. Các nhà nghiên cứu đã tạo ra các bản vẽ chi tiết về những loài thực vật này và xuất bản chúng dưới dạng hình ảnh minh họa trong các album được gọi là “florilegia”, có nghĩa là “tuyển tập các loài hoa” trong tiếng Latinh.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Sự lột xác của sâu bướm trên cành hoa chùm mận gai” của họa sĩ Maria Sibylla Merian. Màu nước và màu gouache* trên giấy da; 20cm x 12cm. Bộ sưu tập riêng. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Mauritshuis, The Hague)
Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Bình hoa hồng, mộc qua, bướm và côn trùng, dành tặng cho Johan Radermacher,” của Joris Hoefnagel, năm 1589. 11cm x 16cm, màu nước trên giấy bảng gỗ. Bảo tàng Zeeuws nằm ở Middelburg, Hà Lan. (Ảnh: Middelburg, Bảo tàng Zeeuws)

Vào năm 1594, nhà vật lý và thực vật học Carolus Clusius đã thành lập Hortus Botanicus – vườn thực vật đầu tiên của Hà Lan. Theo Bảo tàng Tulip Amsterdam, người ta vẫn dựa trên những nghiên cứu về hoa tulip của ông Clusius để xác định các loài hoa ngày nay.

Vào thế kỷ 17, hoa tulip được nhập cảng vào Hà Lan qua Thổ Nhĩ Kỳ từ Á Châu và những nơi khác. Và hội chứng hoa tulip “Tulipmania” đã diễn ra sau đó. 

Người trồng trọt thường ghi chú về trọng lượng và giá cả của củ hoa tulip trên các hình vẽ thực vật trong danh mục của họ. Tranh màu nước của Jacob Marrel mô tả chi tiết hoa tulip Admirael Vander Eyck là một ví dụ. Những bức tranh này đã minh chứng cho ​​số tiền đắt đỏ để mua giống hoa vào lúc đó, có những loại có mức giá tương đương với một căn nhà ven kênh ở Amsterdam. 

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Admirael Vander Eyck,” vào khoảng năm 1635–1640, bởi Jacob Marrel. Màu nước và màu gouache trên giấy da; 20cm x 15cm. Bộ sưu tập riêng. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Mauritshuis, The Hague)

Vào năm 1630, nhu cầu mua hoa tulip lên đến đỉnh điểm, và nhu cầu về tranh vẽ hoa cũng tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Toàn bộ sách về thực vật đều có hình vẽ hoa tulip. Các nghệ sĩ vẽ thực vật thích miêu tả “hoa tulip tan vỡ” với những cánh hoa bị tách và nổi lên những đường vân, mà theo phát hiện của ông Clusius là do virus gây ra [hoa tulip bị nhiễm virus làm thay đổi sắc tố trong tế bào của cánh hoa, khiến hoa có vệt kiểu ngọn lửa và lông vũ]. Ông Clusius nhận ra rằng nếu hoa tulip đổi màu so với màu gốc ban đầu thì hoa sẽ không thể sống lâu bền. Tuy nhiên, ông nói rằng những bông hoa rực rỡ như vậy tồn tại “chỉ để làm lóa mắt chủ nhân của nó bởi sự đa dạng về màu sắc này trước khi chết, như thể để đưa ra lời từ biệt cuối cùng.”

Thị trường hoa tulip đổ vỡ vào năm 1637 khiến nhiều nhà đầu tư phá sản. Các học giả đưa ra các ý kiến khác nhau về lý do thị trường sụp đổ; một số người tin rằng thị trường đã đạt đỉnh và giá không thể tăng cao hơn nữa, trong khi những người khác tin rằng giá củ hoa giảm mạnh là do được nhân giống rộng rãi và không phải nhập cảng nữa.

Tranh vẽ hoa

Họa sĩ dẫn đầu về thể loại tranh tĩnh vật và hoa là Ambrosius Bosschaert. Vào khoảng năm 1618, ông đã vẽ tác phẩm “Bình hoa trong hốc tường” mô tả một bó hoa có kích thước lớn, màu sắc và chủng loại đa dạng. Ông đã vẽ tả thực 30 loại hoa. Tuy thế, bất kỳ người làm vườn chăm chỉ nào cũng có thể nhận thấy rằng bố cục của tranh Bosschaert là khác thường. Bởi vì bố cục đối xứng trong tác phẩm của ông bao gồm những bông hoa nở rộ nhiều mùa và nhiều nơi khác nhau, nên cả bó hoa của ông chắc chắn không thể nở cùng một thời điểm. Một người trong nghề cũng phân tích rằng sự sắp xếp của hoa trông quá nặng nề; nếu thực sự như vậy, bình hoa sẽ đổ mất. Tuy nhiên phong cách over-the-top [thổi phồng] là đặc trưng về tranh tĩnh vật hoa thời kỳ đầu.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Bình hoa trên bệ cửa sổ” vào khoảng năm 1618, bởi Ambrosius Bosschaert the Elder. Sơn dầu trên bảng gỗ; 63cm x 45cm. Tài trợ của A.A. des Tombes, 1903. Mauritshuis, The Hague. (Ảnh: Mauritshuis, The Hague)

Vào những năm 1630, các nghệ sĩ không còn vẽ các bức tranh tĩnh vật đối xứng mà chuyển sang bố cục ít trang trọng hơn, mang tính tự nhiên. Bức tranh vẽ tĩnh vật có bố cục thoải mái của họa sĩ Hans Bollongier vào năm 1639 là một điển hình của thời kỳ đó.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Hoa tĩnh vật ” năm 1639 của Hans Bollongier. Sơn dầu trên bảng gỗ; 66cmx 53cm. Rijksmuseum, Amsterdam. (Ảnh: Rijksmuseum, Amsterdam)

Vào nửa sau của thế kỷ 17, tranh tĩnh vật hoa đã phát triển thành những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Những bức tranh kỳ ảo này là những thế giới cần được khám phá cùng với hình ảnh côn trùng, hoa và hiệu ứng ánh sáng ấn tượng. Bức tranh tươi sáng “Bình và Hoa” vào năm 1670 của Jan Davidsz de Heem là một bức tranh tuyệt đẹp với chiếc bình hoa pha lê màu xanh lam phản chiếu ánh sáng, những con sâu đang bò và những chú bướm bay lượn giữa các loại trái cây, hoa lá hoa quen thuộc và kỳ lạ.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
“Bình hoa”, vào khoảng năm 1670, của Jan Davidsz de Heem. Sơn dầu trên vải; 73 cm x 50 cm. Được mua lại bởi Friends of the Mauritshuis Foundation với sự hỗ trợ của Hiệp hội Rembrandt, 1993. Mauritshuis, The Hague. (Ảnh: Mauritshuis, The Hague)

Một chiếc đồng hồ nằm trên bàn trong tác phẩm “Tĩnh vật hoa và đồng hồ” của Willem van Aelst, nhắc nhở người xem về sự ngắn ngủi của cuộc sống, một đề tài được phản ánh trong các bức tranh “vanitas” (hư không) và “memento mori” (vô thường) nổi bật ở Hà Lan vào thời kỳ đó. Một cách tự nhiên, chủ đề đó gợi mở bản chất phù du của những bức tranh tĩnh vật về hoa.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
“Hoa tĩnh vật với đồng hồ,” năm 1663, bởi Willem van Aelst. Sơn dầu trên vải; 60cm x 48cm. Bảo tàng Mauritshuis,The Hague. (Ảnh: Mauritshuis, The Hague)

Cho đến những năm 1700, vẽ tranh tĩnh vật trở nên trầm lắng hơn. Các họa sĩ như Rachel Ruysch đã sáng tác các tác phẩm có bố cục đơn giản hơn nhưng không kém phần nổi bật. Bà Ruysch đã đạt được thành tựu về vẽ tranh thể loại này ở độ 80 của mình, tác phẩm của bà được hoàng gia Âu Châu yêu thích và sở hữu.

Các nghệ sĩ vẽ tĩnh vật của Hà Lan ở thế kỷ 17 đã làm ngưng đọng thời gian bằng cách tôn vinh hình ảnh đẹp đẽ thoáng qua những loài hoa. Những bức tranh như một lời nhắc nhở về vẻ đẹp của cuộc sống cũng như sự hữu hạn của đời người.

Những đóa hoa nở rộ trong tranh tĩnh vật Hà Lan
Bức tranh “Những bông hoa trong chiếc cốc Ngà”, vào khoảng năm 1670–1675, bởi Maria van Oosterwijck. Sơn dầu trên vải; 60 cm x 45cm. Mauritshuis, The Hague. (Ảnh: Mauritshuis, The Hague)

Lorraine Ferrier là tác giả viết về mỹ thuật cho The Epoch Times. Cô đặc biệt quan tâm đến những ngành nghệ thuật và thủ công hiếm gặp. Cô hy vọng rằng chúng ta có thể bảo tồn di sản nghệ thuật truyền thống. Cô sinh sống và sáng tác tại vùng ngoại ô London, Anh quốc.

Thanh Ân & Hạnh Dung biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn