Khoa mậu-thìn, năm Thái-hòa thứ sáu (1448) đỗ mười hai người đệ tam giáp, đồng tiến-sĩ xuất-thân, theo thứ-tự trên bia như sau này :

1 Đoàn Nhân Công 

Người xã Cao mật, huyện Thanh-oai, phủ Ứng-thiên, làm ngự-tiền học-sinh (chép theo Thiên-Nam lịch triều liệt huyên đăng khoa bị khảo, Sơn-nam, tờ 31b.) 

2 Hoàng Mông 

Người xã Bình khê, huyện Thanh-liêm, phủ Lý-nhân. Làm quan đến tự-khanh (Đăng khoa bị khảo, Sơn-nam, tờ 79 a).

3 Nguyễn Nguyên Chân 

Người xã Lạc-quán (chép theo Đăng khoa lục, sách in, q.1, tờ 7; sách viết, như quyển Lê triều lịch khoa tiến-sĩ đề danh bị ký, của Cao-viên-Trai, và Thiên-Nam lịch triều liệt huyện đăng khoa bị khảo của Phan-hòa Phủ và Phan-buy-Sảng, Hải-dương, tờ 55b, đền chép là Lạc-thực), huyện Thanh-lâm, phủ Nam-sách. Năm mười-tám tuổi, cùng với thày và Trịnh-thiết-Trường (xem Tri-tân, số 86, trang 5) đỗ phụ-bảng khoa nhâm tuất năm Đại-bảo thứ ba (1442). Giận không đỗ cao, đều xin thôi về. Đến năm Thái-hòa thứ sáu (1448,) Nguyễn-nguyên-Chân đỗ đồng tiến-sĩ, làm quan đến khu-mật trực-học-sĩ. Thầy là Trịnh-thiết-Trường thì đỗ bảng-nhỡn (Đăng khoa bị khảo, Hải-dương, tờ 55b).

4 Nguyễn Tôn Lỗi 

Người xã Bồ-điền, huyện Bạch-hạc, phủ Tam-đái. Đỗ năm hai-mươi-nhăm tuổi, theo Đăng khoa bị khảo thu  thập thượng, tờ 60b; quyển Đăng khoa lục q.1, tờ 7b, thì in là ba mươi-nhăm tuổi). Làm quan đến đại-học-sĩ.

5 Nguyễn Thiện 

Người xã Hương-quất huyện Tứ-kỳ, phủ Hạ-hồng, anh Nguyễn-Thận, Nguyễn-Tài: ba anh em làm quan cùng triều. Nguyễn-Thiện làm đến Lại-bộ thượng-thư. Bộ Khâm-định Việt-sử thông-giám cương-mục có hai đoạn nói về Nguyễn-Thiện như sau này. Đoạn trên (q.19, tờ 27a) chép:  “Năm Quang-thuận thứ năm (1464) vua dụ Nguyễn-Thiện rằng: ‘Khoảng năm Thái-hòa (1443-1453) năm Diên-ninh (1454-1459) trên thì tể-tướng, dưới thì trăm quan, ganh nhau doanh-lợi, ăn của đút-lót thị-sự. Nhà ngươi bảo Nguyễn đình-Mỹ là người tiền-nhân, không nên tin dùng: ta lên trị-vì đã năm năm nay, thấy Đình-Mỹ là người bôn-tẩu siêng-năng, hết lòng hết sức, trước kia thì siêm-nịnh, nay thì lương-thiện, quả không có hại gì !’ Đoạn dưới (q20, tờ 9a) chép: ‘Mùa thu tháng bảy năm Quang-thuận thứ bẩy (1466) vua cho Nguyễn-Thiện làm chức thừa-chánh phở-sứ tỉnh Thanh-hóa. Trước Thiện làm ngự-sử, gặp việc dám nói. Vua sắc dụ khen rằng: “Nhà người làm bày-tôi hết lòng thành, lo việc nước, thường dâng lời nói hay: ta cũng có khi chấn-chỉnh lại, để cho nhà ngươi được oai với những người chưa dam bắt-bẻ nhà vua, thực đáng khen thưởng ! Nay sai quan tư-lễ-giám đem dụ ban thưởng cho bạc làng lạng.” 

Mùa thu năm Quang-thuận thứ bảy (1466) vua bổ Nguyễn-Thiện ra chức thừa-chính, lại ban dụ rằng: “Nhà ngươi trước làm chức gián-quan (ngăn vua), nghị luận thiết-thực ngay thẳng, nay ra vỗ yên trăm họ, giữ trị một phương, nên vâng phép nước, lo việc dân, răn lòng giận-dữ, bỏ sự ham muốn, để không hổ thẹn với chức đang làm.”

6 Đào Tuấn 

Người xã Sùng sơn, huyện Chương-đức, phù Ứng thiên. Đỗ năm ba mươi tuổi. Năm Quang thuận ất dậu (1465) làm chánh sứ sang Tàu, đi cống về làm thiêm đô ngự-sử, sau thăng hàn lâm học-sĩ, quyền phó đô ngự sử, Bộ Việt sử cương-mục q.90, tờ 9a chép năm Quang thuận thứ bảy (1466) vua dụ thiêm đô ngự sử là Đào-Tuấn rằng, “khoảng năm Thái hòa (1443-1453) năm Diên ninh (1154-1459) chức ngự sử không ra ngoài người ngoại thích (họ vợ vua) thì vào tay kẻ quyền-thần. Bởi thế công luận hỗn hào, không ai dám nói rõ ‘hươu’ hay ‘ngựa’.: việc nước đồi tệ đến thế là cùng. Nay cho ngươi giữ chức phong hiến, nếu tự ý làm càn, khinh dể nhời nói, thì thực là người hoạ lại”. Mùa thu năm đinh-hợi (1467) Đào Tuấn thăng thái bộc tự khanh, quyền An bang tham-chính. Năm Hồng-đức nhâm-thìn (1472) đổi làm binh bộ thượng thư. Lúc ấy năm mươi tư tuổi. Sau được phong tước là Sùng-sơn ba.

7 Định Minh 

Người xã Kim-sơn, huyện Vĩnh Linh, phủ Ngự-thiên. Đỗ năm ba mươi tuổi, chưa kịp ra làm quan thì mất (Đăng khoa bị khảo, thu tập hạ, tờ 8b.)

8 Tạ Tử Điên 

Người xã Ỷ la, huyện Từ liêm, phủ Quốc Oai. Nguyên quán ở xã Vân canh. Năm nhâm ngọ Quang thuận thứ ba 1462 làm cống bộ phó sứ, sau làm quan đến chức tham chính (Đăng khoa bị khảo, thu thập thượng, tờ 2 a)

Việt-sử cư ở mục, q.19, tờ 23 A. 

9 Trần Duy Định 

Người xã Võ lăng huyện Thượng phúc, phủ Thường tín. Lúc bắt đầu làm quan phủ Tường Vân, rồi làm tham nghị ở Lạng Sơn. Năm Hồng đức mậu tuất 1478, có lệnh kén chọn, vì kém phải về (Đăng khoa bị khảo Sơn nam tờ 21a. Đăng khoa lục q.1, tờ 7b chỉ chép về trí sĩ). 

10  Phạm Quốc Trinh 

Người châu Tiển lan, huyện Thanh đàm, phủ Thường tín (Đăng khoa lục, tờ 8a.)

11 Võ Đức Lâm 

Người xã Mộ-trạch chép theo Đăng khoa lục, q.1, tờ 8a; quyển Đăng khoa bị khảo, Hải-dương, tờ 11A, viết là Lỗi-dương, huyện Đường-an, phủ Thượng-hồng. Làm đến thượng-thư, rồi về trí-sĩ. 

12 Nguyễn Ngự 

Người xã Đại lạc, huyện Vĩnh-ninh, phủ Ngự-thiên. Đỗ năm ba-mươi-sáu tuổi. Làm quan đến phó đô-ngự-sử (Đăng khoa bị khảo, thu tập hạ, tờ 85-9a).

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)