Sau khoa quý dậu năm Thái- hòa mười một (1453), đến khoa quý-mùi năm Quang-thuận thứ tư (1403). Bài bia đề tên các ông tiến-sĩ đỗ khoa ấy (Quang-thuận tứ niên quí-vị khoa, tiến-sĩ đề danh ký) như sau này.

“Đứng Thánh thiên-tử (Lê Thánh-Tôn, 1460-1497) lên ngôi báu đến nay bốn năm, văn vận sáng như sao khuê, nhân tài đông như như mây họp. Lúc ấy trong kỳ thi, học trò hát bài thơ Lộc-minh mà kéo đến, nhiều tới một nghìn hơn bốn trăm người, thi tài đấu nghệ trong trường xuân vi, Lựa chọn người giỏi được bốn mươi tư người.

Ngày 16 tháng hai, vua ngự đến trường thi, ra đầu bài, hỏi về việc trị nước của các bậc đế-vương. Sai Kiểm-hiệu-tư-đồ bình-chương sư là Nguyễn-Lai, đô-đốc-đồng-bình chương sư, tri đông-đạo chư vệ quân đề điệu Quốc-từ-giảm là Lê-Niệm, trông nom các việc :

Sáng hôm sau, lũ môm hạ sảnh tả tư tả gián-nghị đại-phu, tri bắc đạo quân dân bạ tịch, kiên Hàn lâm-viện thừa-chỉ học-si là Nguyễn như-Đổ, Hàn-lâm-viện thừa-chỉ học-sĩ, tri đông- đạo quân-dân bạ tịch là Nguyễn vĩnh-Tích, Quốc tử-giám tế-tửu là Nguyễn Bá-Kỷ đem quyển dâng đạo. Vua xem xong, quyết định thứ bực, cho lũ Lương thế-Vinh trở xuống đỗ tiến sĩ cập đệ và tiến-sĩ xuất thân.

Ngày 22, vua ngự điện Kính thiên, hai người truyền loa nói là việc thi đã xong, Lễ quan mang bảng vàng yết ở ngoài cửa Đông hoa, để cho nhiều kẻ quan-chiêm. Lại ban cho mũ áo yến tiệc, để tỏ ý yêu mến đặc-biệt và gia ân rất là đằm thắm

Nhưng mà chưa làm bìa đề tên; đến nay đã hai-mươi-hai năm, thực là khuyết điển, Đức Hoàng thượng nghĩ nhân-tài là nguyên-khí của quốc-gia, chẳng có nhẽ chẳng vun-giồng cho rộng khắp; chế độ là phép hay của quốc-gia, chẳng có nhẽ chẳng làm cha rõ-ràng? Lại sắc cho đông-quan (bộ công) chạm đá khắc tên, dựng ở nhà Thái-học. Sa Đào-cử soạn bài ký này.

Kẻ thần-hạ kính vâng mệnh sáng, không dám lấy mình là sơ-thiền mà từ chối, xin chắp tay cúi đầu mà nói rằng: Chân-nguyên hội-họp, rồi hiền-tài thiên hạ mới nẩy ra; chân-chúa dấy lên, rồi hiền-tài thiên-hạ mới dùng hết. Cử bậc nguyên-khải, hỏi quan nhạc-mục là cách dùng người hiền của đời Đường Ngu; cất người hiền-nang, thăng kẻ tuấn tạo là cách dùng người tài của nhà Thành-Chu. Cho tôn phong-tục thái-hòa, trị dân yên-bình; xem cách cai-trị, tất phải cốt ở việc cử người hiền dùng người tài làm gốc.

Đức Thái-tổ Cao hoàng-đế ở Thánh triều (Lê Lợi, 1418-1438) sửa sang võ-công, rộng tìm văn đức, chưa kịp thay đổi, bắt đầu mở lối cầu hiền, sửa-sang đức hạnh, phấn-khởi lòng dân, qui-mô rất là rộng ra,

Đến đức Thái-Tôn Văn hoàng đế (1433-1442) nối theo phép rộng, thu phục hết kẻ anh-hùng, đặt khoa-cử để lấy người giỏi, dùng kẻ chân-nho đồ giúp trị, nhớn-nhao thay! thật có công thủ-thành,

Đến đức Nhân Tôn (1442-1459) sửa sang khuôn phép, theo công nghiệp tỏ bày mưu hoạch, lấy nho thuật mà phấn-sửu việc trị bình, lấy nhân hậu mà bồi-bổ quốc-mạch, cách thi lấy học-trò, hết thảy kính theo phép cũ.

Nay hoàng Thượng lâm sàng thêm cơ-đồ nhớn, gánh vác mệnh to, tăng nhân-nghĩa vang lừng bờ cõi, văn-trị võ-công trước sau sáng tỏ. Giáo hóa đến thế là rực rỡ, nguyên khí đến thế là dầy-dặn, văn giáo sinh ra đầy dẫy, nho-phong phấn-chấn chứa-chan. Cho nạn nhân-tài sản xuất đều hớn hở như chim diều bay trên giời, như kiến bò vòng dưới đất. Chẳng một người nào là chẳng khoái chí như chim bằng bay, phấn thân nha beo dạy, để được cái may mắn trông thấy đời thịnh. 

(Còn nữa)

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn