Khoa thi này (quí-mùi, Quang-thuận thứ tư, 1463) là khoa thứ nhất trong buổi trung-hưng, được nhiều người giỏi, rực-rỡ hơn xưa, lần lượt bổ dùng, khắp cả trong ngoài: người thì coi việc lễ nhạc, kẻ thì giữ việc từ-hàn, nhiều như xâu cả đàn ve; người thì giữ chức phiên-tuyên, kẻ thì cần quyền thú-lệnh, chen vai nối gót.

“Quẻ Thái (trong kinh Dịch) phép: ‘Nhổ cỏ nhổ cả cụm vì là cùng loài’; nhà Chu (đời Văn-vương) được nhiều kẻ cát-sĩ bởi người quân-tử dạy bảo. (Hai câu tỉ dụ ấy đối với việc đặt khoa thi này) cũng nói về việc đời thịnh: (nước ta được như thế chính là giời cho đứng thánh thượng cái điềm văn-minh nghìn muôn năm).

“Đến nay chế-độ văn-vật có trật tự rõ-ràng, khác vào đã tốt, dựng ở nhà Quốc-học, một là làm phép hay cho đời thịnh, hai là làm vinh-quang cho hiền-sĩ, báo rõ đời ân, ngụ ý khuyến-khích,

Học-trò may được khắc tên lên bia đá này, phải theo danh-nghĩa, làm đúng sự thực, sửa đức hạnh, yên phận mình, bắt chước tính giữ-gìn như Văn-hiến, đừng theo khúc-học như Công-tôn; đức thanh liêm phải như Triệu-duyệt-Đạo, tiết cương-trực phải như Phạm-cảnh-Nhân; ở chức thị tụng thì nghĩ làm thế nào mà dâng được những mưu-chước hay; nhậm chức kỷ-cương thì nghĩ làm thế nào cho trong sạch gốc chính; giữ chức địa-phương thì nghĩ làm sao cho tỏ đức vua mà thấu tình dân; giữ quyền sô-mục thì nghĩ làm sao cho đầy đủ dân sinh mà bền gốc nước; ngõ bầu trên không phụ cái ý tốt của triều-đình bạn khen, dưới không phụ cái lòng hoài-bão của mình khi bình-sinh định báo đền giúp đỡ để tiếng khen mãi mãi, lưu tiếng thơm không cùng.Khiến người đời sau xem bia đá này, chỉ tên mà nói rằng: “Người này hết trung với nước; người này có ơn với dân; người này đạo nghĩa ngay thẳng; nguời này công-đức vẻ-vang “ may ra mới có những người! như thế.

Nếu không thì người ta mục cho rằng: “Đồ gian tà, tuồng bạc-hãnh, quản hèn-nhát !” có thanh-nghị rõ-ràng, nên chẳng cẩn-thận ru !

Ấy mới biết đi Thánh-thiên-tử khen ngợi sâu-xa, trông-mong rất mực, sủng-thượng khuyến-khích, hơn cả xưa nay. bởi muốn được kẻ chân-nho giúp trí để lưu-truyền các mưu hay cho con chán ngày sau,

Vậy thì việc khắc bia đề tên, không những là việc hay cho quốc-gia ức muôn năm không cùng, lại là cái phúc cho con thanh cháu thần cho muôn năm không cùng.

Tôi kính-cần làm bài ký này. Hiển-cung đại-phu Hàn-lâm viện thị-giảng đồng-các hiệu-thư Đào-Cử phụng sắc soạn. – Cẩn-sự-lang trung-thư giám-chính-tự Nguyễn-Tủng phụng sắc thư, – Mậu-lâm-lang Kim-quang-môn đã chiếu Tô-Ngại phụng sắc triện.

Bia dựng ngày rằm tháng tám, năm Hồng-đức thứ mười lăm (1484) của nước Hoàng-Việt”.

Ông Đào-Cử soạn bài bia trên kia là người xã Thuần-khang, huyện Siêu-loại, tỉnh Bắc-ninh. Đổi tên là Thuấn-Cử. Mười tám tuổi đỗ đồng-tiến-sĩ năm Quang-thuận bính-tuất (1466). Năm đinh-hợi (1467) đương chức tri-huyện, thi đỗ khoa hoành-từ, vâng mệnh vào đọc sách ở viện Bí-giám, thăng Hàn-lâm thị-chế, rồi thăng Tri-chế-cáo. Mùa hè năm bính-thân (1476) thăng Đông-các hiệu-thư. Mùa thu năm nhâm-dần (1482) theo vua Lê Thánh-Tôn (1460-1497) đi tây-chinh, thăng Hàn-lâm-viện thị-độc. Cùng với Đại-học-sĩ là Thân-nhân-Trung vâng mệnh làm quyển Thiên-Nam dư-hạ tập và chép việc vua Thánh-Tôn thân đi đánh dẹp. Mùa xuân năm mậu-thân (1488) xét xứng-đáng chức-vụ, vua cho làm Đông các học-sĩ. Quyển Lịch-triều hiến chương loại-chí của ông Phan-huy Chú (quyển 7 tờ 22b) khen ông Đào Cử “văn-chương tháo lí, vua rất trọng là người có khí-vũ, đãi gần bằng họ Thân (Nhân-Trung) họ Đỗ (Nhuận), thường cho họ bài thơ Lương-giang-dạ-hứng và sai đọc tập Cổ-lâm bách-vịnh thi-tập (có chỗ chép là Ngôn-Làm bách-vịnh thi-tập).” “Quyển Toàn-Việt thi-lục của ông Lê-quý-Đôn (quyển 11, tờ 18a) chép vua Lê Thánh-Tôn sai ông Đào-Cự soạn bài hậu-tự (bài bạt) quyển Quỳnh uyển cửu-ca. Toàn- Việt thi-lục còn sao lại mười bài thơ cận thể của ông về động Lục-vân, sông Thiên-vực, châu Thủy-Aí, v. v… Ông làm quan đến Bộ-hộ thượng-thư, coi cục Tú-lâm ở Sùng-văn-quán. Mất khoảng năm Canh-thống (1498-1501). Anh là Đào chính-kỷ cũng đỗ hoàng giáp: anh em làm quan cùng triều.

(Còn nữa) 

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)