Năm quí-mùi, niên-hiệu Quang-thuận thứ tư (tức là năm 1463), đỗ bốn-mươi-tư ông tiến-sĩ. Khoa ấy vua Lê Thánh-Tôn (1460-1497) cho làm cờ tam-khôi băng lụa, đề: “Trạng-nguyên Lương-thế-Vinh, Bảng-nhỡn. Nguyễn-đức-Trinh, Thám-hoa. Quách đình-Bảo, thiên hạ cộng tri danh” (thiên hạ đều biết tiếng).

Lương Thế Vinh

Hiệu là Thuy-Hiên, tự là Cảnh-Nghị, người xã Cao-hương, huyện Thiên-bản (nay là Vụ-bản), phủ Kiến-hưng (nay là Nghĩa-hưng), tỉnh Sơn-nam (nay là Nam-định). Lúc trẻ tuổi, người ta gọi là thần đồng vị thông minh lạ thường. Năm hai mươi-ba tuổi đỗ đầu đệ nhất-giáp tiến-sĩ (tức là trạng-nguyên). Khi vào thi đình, vua Thánh-Tôn ra bài “Thánh nhân kế thiên lập cực” ứng-chế thứ nhất, vua phê là “văn-học uẩn-tạ”. Sai giúp những giấy má về việc bang-giao; lúc đầu cho làm Hàn-lâm trực-học-sĩ, quyền Công-khoa cấp-sư-trung. Khoảng năm Hồng đức (1470-1497,) cho làm Hàn lâm-viện thị-giảng, chưởng-viện-sự, nhập-thị kinh diên, kiêm Sùng văn quán tú lâm cục tư-huấn, dự Tao đàn sái phu. Đi sứ Tàu ứng đối văn từ nhanh giỏi, tiếng lừng hai nước. Có soạn những sách Thích-điển giáo khoa, Phật kinh thập giới, Đại-thành toán-pháp, họa thơ của vua Thánh-tôn bài Tư gia tướng sĩ, Du lục vân động, v..v, còn chép trong Toàn Việt thi lục, và làm bài văn bia ở mộ đô-đốc Đinh trọng-An, v. v…, còn chép trong Hoàng-Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển. Sau khi mất làm phúc thần làng Cao-hương; con là Công-Hiển cũng có huân lao, được phong thượng đẳng phúc thần, đền thờ riêng; đệ-niên dân làng rước thần bài Công-Hiến đến đền Lương-thế-Vinh đề hợp tế Ông là cháu ngoại ông Đương-Chân (chép theo quyển Đại-Việt đinh nguyên phật-lục sách viết bằng Hán văn của Trường Bác cổ, số A 1205, tờ 11a-11b; Lịch triều hiến chương loại chí, quyển 7; Toàn việt thi lục, quyển 11, tờ 16a; Đăng khoa lục, quyển 1, tờ 10a; i, quyển Sơ-nnam, tờ 99b; còn truyện thần tích chúng tôi không chép; ai muốn xem, xin giở quyển Đại-Việt đinh-nguyên phật-lục, phần phụ-lục, tờ 11b-13b).

Nguyễn Đức Trinh

Người xã Yên-giới (bản Toàn Việt thi lục, quyển 11, tờ 17b, của trường Bác-cổ viết là Yên lạc) huyện Thanh lâm, phủ Nam-sách, tỉnh Hải-dương. Đỗ thứ hai đệ-nhất giáp tiến sĩ (tức là bảng-nhỡn). Năm hai-mươi-nhăm tuổi. Năm kỷ-sửu (1469) làm Hàn-lâm-viện trực-học-sĩ rồi thảng phó đô ngự sử. Mùa thu năm Hồng-đức tân-mão (1471) làm chánh sứ sang nhà Minh tâu về việc nước Chiêm-thành đánh ở ngoài ven; Đi đường mất, được truy tặng thượng thư. Ông là ông ngoại Lê-Lý-Thái. Có một bài thơ cận thể Đề Phiếu-mẫu từ chép trong bộ Toàn-Việt thi lục, quyển 11, tờ 17b; Đăng khoa bị khảo, quyển Hải-dương, tờ 56a; Đăng khoa lục, quyển 1 tờ 10a). 

Quách Đình Bảo

Người xã Phúc-khê, huyện Thanh Lan phủ Tiên-hưng, tỉnh Sơn-nam. Hai mươi-bốn tuổi đỗ hội-nguyên khoa qúi-mùi năm Quang-thuận thứ tư (1463). Thi đình đỗ thứ ba nhất-giáp tiến-sĩ. Người văn học, được làm thị-tụng, hầu gần vua trong triều. Lúc mới làm Hàn-lâm-viện trực học-sĩ. Năm Hồng-đức canh-dần (1470) vàng mệnh sang sứ nhà Minh. Đi sứ về, thiên làm Đông-các hiệu-thư rồi thăng phó đô-ngự-sử, kiêm Tae-xuân phường tả-trung-doãn. Năm Hồng-đức quí-mão (1483) cùng với Thân-nhân-Thứ và Thân nhân Trung vâng mệnh hiện chép bộ Thiên Nam dư hà-tập và quyển Thân-chinh ký là quyển chép việc và Thánh-Tôn (1460-1417) thân đi đánh giặc. Rồi làm thượng thư bộ Lễ, kiêm chức quan như cũ, lúc ấy bốn mươi tư tuổi. Mùa thu năm giáp-thìn (1484) vâng mệnh xét kỹ tên họ những ông tiến-sĩ từ năm Đại-bảo nhâm-tuất (1442) đến năm Hồng-đức giáp-thìn (1484), khắc vào bia đá dựng ở viện Thái-học. Năm Ất-tị (1485), thiên làm Hình bộ thượng-thư Đăng khoa lục (quyển 1, tờ, 10a) chép ông làm đến Lại-bộ thượng thư, kiêm Đô-ngự sử. Là anh Quách-hữu Nghiêm anh em làm quan cùng triều (chép theo Lịch triều hiến chương loại chí quyển 7, và Đăng khoa bị khảo quyển Sơn nam tờ 93a). 

(còn nữa)

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)