Trong khoảng năm 1436-1441 và năm 1443-1447, sử chỉ chép thí võ (Cương-mục, quyển 17, tờ 4a), không thấy chép thi văn. Mãi đến năm Thái-hòa thứ sáu (1448), mới có bia đề tên những tiến-sĩ khoa mậu-thìn như sau này (Thái-hòa lục niên mậu-thìn khoa tiến-sĩ đề danh ký):

“Đại-Nam Nhân-Tôn khâm văn (?) nhan-hiếu tuyên-minh hoàng-đế (1442-1459) noi theo nghiệp nhớn được mười bảy năm, tất cả ba lần mở khoa-thi, chiêu-tập được nhiều kẻ sĩ. Đương thời bấy giờ dùng được nhiều người giỏi, đến được bình trị, về cách cất-đặt không làm một việc gì là không bổ-ích.

“Khoa quí-dần năm Thái-hòa thứ mười một (1453), và khoa mậu-dần năm Diên-ninh thứ năm (1458) đều không có điện thì (thi đình), Duy nắm Thái-hòa thứ sáu (1448) là năm mậu-thìn, tức là khoa này, mới có điện-thi-sách. Lúc bấy giờ, những kẻ sĩ trong thiên hạ thi hương đỗ rồi, vào thi hội, gọi là “lễ-vi”, được hơn 750 người. Quan Hữu-tư chọn người giỏi được 27 người.

“Ngày 23 tháng tám, mùa thu, vua ngự ở điện Tập-hiền ban xuống những bài hỏi, sai Đặc-tiến nhập-nội tư-khấu đồng-binh chương-sự là Trịnh-khắc Phục, Đề-điệu là Ngự-sử-đài ngự-sử trung-thừa là Hà-Lật, Giám-thi là Môn-hạ-tỉnh tả-tư tả-nạp-ngôn trị Bắc-đạo quân dân bạ-tịch là Nguyễn-mộng Tuân, Hàn-lâm-viện thừa-chỉ học-sĩ là Trần-tuấn-Du, Quốc-tử giám tế-tửu là Nguyễn-Tử-Tấn, Độc-quyển, chọn những bài đình đối nào nên lấy.

“Chọn được lũ Nguyễn-nghiêu Tư trở xuống cho tiến-sĩ cập-đệ hay tiến-sĩ xuất-thân, mũ áo tiệc yến, đều theo phép thường, duy có việc lập bia đá đề tên, lúc bấy giờ chưa làm..

“ Đức Thánh-thượng trị-vì 25 năm (quyển Lê triều lịch khoa tiến-sĩ đề danh bi ký, quyển 1, tờ 6b, chép có 15 năm) làm hưng-khởi bọn học-trò, văn-học thêm thịnh, phấn-sức nền trị-bình, thanh-minh rộng đủ. Lúc bấy giờ chiếu cho Đông-quan khắc bia đá để lâu dài, lại sai Đỗ Nhuận soạn văn bia; kẻ thần-hạ kính vâng nhời ngọc, vì tư-văn đa sĩ mừng, không dám lấy mình là vu-lậu (quê-kệch) mà từ chối, xin chắp tay cúi đầu mà nói rằng:

“Việc cai-trị của đế-vương, chẳng gì nhớn hơn là trọng nhân-tài, phép tắc nhà nước rõ ràng, hẳn phải đợi bực hậu thánh, bởi trị nước mà không kén chọn nhân-tài, gây-dựng mà không nhờ ở hậu-thánh, thì đều là cẩu-thả. Theo đâu mà làm thịnh được công-việc thói-phép, đủ được văn-vật điển-chương ?

“Vậy có Thái-Tổ nối mệnh giời mở vận, đức như thánh, công như thần, văn tài võ giỏi, nghiêm-trang rực-rỡ, xét việc võ, xem việc văn, khoan nhân dũng-trị: Chí-minh đại hiếu Cao-Hoàng đế (Lê Thái-Tổ, 1418-1433) đem võ-công ngăn loạn-lạc, đem văn-đức làm trị-bình đặt niên-hiệu là Thuận-thiên (1428-1433) trước hết sửa sang việc học, đạo-hóa thấm khắp, văn-vận sáng rỡ, muôn đời thái-bình, bấy giờ là thời-kỳ mới.

“Đức Thái-Tôn nối mệnh giời trị dân, hiền đức thánh công, khâm-minh văn-võ, anh-duệ nhân-triết, chiên-huệ Hoàng-đế (1433-1442), việc võ việc văn sửa-sang khuôn-phép, Năm Đại-bảo thứ ba (1442) mở nho-khoa, tài-tuấn rất nhiều, kỷ-cường phấn-trấn, làm sáng đời trước, mở đường đời sau, bấy giờ là buổi khoáng-trương

“Đức Nhân-Tôn Hoàng-đế (1442-1459) nối chí làm việc, xếp việc võ, xem việc văn, kén học-trò, dùng người giỏi, kinh theo phép cũ, còn việc dựng bia ở nhà Thái-học chưa làm; việc rất văn-hoa, hình như đợi thời.

“Nay đức Hoàng-đế (Lê Thánh Tôn, 1460-1497) mở vận trung-hưng, gánh vác việc ấy, lại càng rõ sự trong đạo nho, huống-hồ mọi vua đã có ý hàm-dưỡng sâu-xa, lại thêm sức mười năm phấn-chấn.

“Trước kia sáu năm một lần thi, nay châm-chước theo phép nhà Chu (1122 – 255 trước kỷ-nguyên) không ngoài ba năm. Trước kia lấy học-trò không quá hai ba mươi người, nay rộng xét thực tài lấy rất nhiều, không kể gấp hai, khen chuộng hưng-khởi, đức-ỷ hồn-hậu, ân-vinh thứ bực, tiết-mục rõ-ràng, nghiêm-trang rực-rỡ hơn cả xưa nay,đem khắc vào đá tốt, chép sự thực văn-hoa, để ở nơi kẻ hiền, khuyến-khích kẻ sĩ-phu. Ôi ! chế-độ nhà vua thịnh vậy ! Thế thì điềm văn-minh thánh-triều, việc khoa-cử gây tự năm Thuận-thiên (1428-1433) mới có tự năm Đại-bảo (1440-1442), thi hành về năm Thái-hòa (1443-1453), đến năm Hồng-đức (1470-1497) thịnh hơn hết cả.

“Trước kia nếu chẳng phải đứng Thánh-thuợng hết đạo làm quân-sư, thần đem quyền-hành chế tác, thì thành sao được cái chí đời trước, làm đủ sao được những việc đứng Tiền-thánh chưa làm ? Con thánh cháu Thần, trông theo ý thịnh, qui-mô rộng xa, trăm đời có thể biết: học trò mà được dự vào bia đá này, tuy đã sắp từ-dã cõi trần, song cũng có người trung kẻ tà, người thực kẻ dối, việc làm cũng có người được kẻ hỏng, người phải kẻ trái, nói công nhiên nghìn năm không ai giấu được. Nay những người làm quan, chính nên nghĩ đời trước kén bầy, ơn ngày nay được vẻ-vang, nên làm cho tiết muộn đường xa, hầu không hổ thẹn. Để cho những kẻ hậu-tiến, vỗ tay khắc bia này, liếc mắt nhìn văn này, cũng biết là cách thánh-triều khuyến-khích, mà tìm sự-tích danh-thực của những bậc tiền-bối, chọn những người nào phải theo mà bắt-chước, chớ để đời sau nghị-luận đến đời nay, cũng như ngày nay nghị-luận đến đời xưa, như thế thì là một điều hay trong những sự hay. Kính chép.

“Trung-trinh đại-phu Hàn lâm-viện-thị-độc, kiêm Đông-các đại học-sĩ Đỗ Nhuận phụng sắc sao. Cần sự long-trung-thư giám-chính-tự Nguyễn Trung phụng sắc thư, Mậu-lâm-lang kim-quang môn đãi-chiếu Tô Ngại phụng sắc triện.

 “Bia dựng ngày rằm tháng tám năm Hồng-đức thứ mười lăm (1484).”

(Còn nữa) 

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn