Về bài “Trịnh Hoa Đường” (TT số 20), bạn Nhật-Nam thuật theo lời một vị lãnh thành kể lại. Đó là một tài liệu sống. Sau khi bài đó ra, Tri Tân nhận được bài dưới đây của bạn Long-Điền nói thêm về chuyện  ấy. Vậy xin lục đăng cho rộng thêm phần kê-cứu – T. T.

TrongTri-Tân số 20 ra  ngày 24-10-41, ông Nhật-nham có bài nói về ông Trịnh Hóa-Đường, người làng Phù-đổng, huyện Tiên-du, tỉnh Bắc-ninh đỗ Tiến sĩ năm 13 tuổi về thời Minh-mệnh.

Chúng tôi đọc bài đó thấy có mấy chỗ ngờ, nên xin cùng bàn với Nhật-nham tiên-sinh.

Mười ba tuổi đỗ tiến-sī

Theo chỗ chúng tôi khảo ở sách “Quốc-triều Hương-khoa lục”, thì ông Trịnh Hoa-Đường đỗ Hương-cống (1) khoa Kỷ-mão (1819) đời Gia-long thứ 18 ở trường Thăng-long.

Triều Nguyễn, mãi đến năm Minh mệnh thứ 3, Nhâm-ngọ (1822), mới mở ân-khoa (2) thi hội. Khoa thi hồi đó là khoa thi đầu tiên của nhà Nguyễn.

Nói ông Trịnh Hoa-Đường đỗ Tiến-sĩ năm 13 tuổi thì tất năm lên 10 tuổi đã đỗ Hương-cống. Lên 10 tuổi đỗ được Hương-cống, e sớm quá. Vậy có lẽ ông đỗ Hương-cống năm lên 13, rồi 3 năm sau, tức là năm Nhâm-ngọ (1822) Minh-mệnh thứ 3 có ăn khoa thi hội, ông mới đồ Tiền-sĩ là năm ông đã 16, 17 tuổi,

Xét nước ta, về triều Nguyễn, có ông Nguyễn-Quan-Hải, người làng Hải-thiên (sau Hải-yến), Tiên lữ, tỉnh Hưng-yên, mới 12 tuổi đậu Cử nhân khoa Giáp-tý (1804) năm Tự-đức thứ 17, là người đỗ sớm. Khoa ấy cụ Trần-Hy-Tăng đỗ Thủ-khoa trường Nam-định.

Mới đỗ đã được bổ tuần phủ

Ông Nhật-Nham chép: khi ông Trịnh-Hoa-Đường mới đỗ, vua Minh-mệnh thấy người tuổi trẻ tài cao, rất kính-ái, vời vào cung ban yến, cho đặc ân nằm cùng ngự-tháp một đêm, lúc vinh-qui lại cầm tay bảo rằng: “Trẫm ăn-hận không được sớm gặp khanh, công-việc cai trị Hà-tiên, Trẫm ủy-thác vào khanh đấy”, rồi suy cử làm Tuần-phủ Hà-tiên,

Theo quan-chế nhà Nguyễn, các vị đỗ Tiến-sĩ lúc mới chỉ được bổ dụng đến Đồng Tri-phủ (tức như Tri-phủ sơ thụ, trên chức Tri-huyện, mà dưới chức thực thụ Tri-phủ). Đến ngay cụ Trần Hy-Tăng, người làng Vị-xuyên (Nam-định) liên trúng tam nguyên, là bực đại tài,thế mà khi đỗ rồi, cũng còn phải vào làm Tham-biện Nội-các, rồi sau mới được bổ Án-sát Bình-định.

Ông Trịnh Hoa Đường làm Tuần-phủ Hà-tiên hay An-giang ? (3)

Theo ông Nhật-nham,thì ông Trịnh-Hoa-Đường làm Tuần-phủ Hà-tiên, rồi vì bị kẻ đồng liên tiểu-nhân hãm hại mà bị tội xử-giảo. Nhưng theo chúng tôi khảo thấy chua ở “Quốc Triều Hương-khoa lục”, thì ông Trịnh Hoa Đuờng có làm Tuần-phủ tỉnh An-giang (Nam-kỳ), rồi vì thất-thủ thành mà bị cữu.

Việc thất-thủ, thành An-giang, chúng tôi chưa khảo được duyên-cớ. Vậy không rõ ông Trịnh Hoa-Đường làm Tuần-phủ Hà-tiên hay An-giang và bị tội ra sao ?. Vì, theo chỗ chúng tôi biết, thị quan văn mà đề thất-thủ thành trì –theo quân-pháp nhà Nguyễn – chưa đến nỗi bị xử-giáo mà con cháu cũng chưa đến nỗi bị bắt đắc ứng-dụng và bất đắc ứng-thí. Có chăng chỉ có phạm tội phản-nghịch thì mới bị cực hình như thê.

Long-Điền NGUYỄN VĂN MINH

(Theo tài liệu trong Đại-Nam Lịch Sử Địa-dư Từ-Điển)

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Từ đời Cố-Lê, thi hương, người nào đỗ trên là Hương-cống, tên liệt vào Giáp-bảng; người đỗ dưới là Sinh-đồ tên liệt vào Ất-bảng. Đến triều Nguyễn vẫn theo chế-độ đó. Đến mãi năm Minh-mệnh thứ 15 “giáp ngọ 1834) mới cải Hương-cống ra cử nhân, Sinh-đồ ra Tú-taì.

(2) Ân-khoa là khoa thi đặc-biệt, bất thần nhà vua xuống chiếu, mở khoa thi. Theo lệ thường cứ ba năm một khoa, gọi là chính khoa: thi hương thì vào năm tý, ngọ, mão, dậu; thi hội thì vào năm thìn, tuất, sửu, mùi. Còn ân-khoa thì ở ngoài những năm kể trên, như ân khoa thi hương mở năm Tân-tỵ Minh-mệnh thứ 2; Ân-khoa thi hội mở năm Nhâm-ngọ, Minh mệnh thứ 3.

(3) Trước thời Tây-thuộc, Nam-kỳ chia ra 6 tỉnh; Gia -định, Biên-hoa, Định-tưởng, Vĩnh-long, Hà-tiên, An-giang. Sau thời Tây-thuộc, mới chia ra làm 20 tỉnh

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn