Tiếp theo của phần II

Một ngày mấy lượt trèo non, 

Lấy gì làm đẹp, làm giòn ! hỡi anh ? 

Một ngày ba bận trèo đèo, 

Vì ai, vú xếch, lưng đeo ! hỡi chàng ? 

Thể phú Bốn câu này cũng giống ý với hai câu “Ngày ngày hai bữa cơm đen, còn gì má phấn, răng đen ! hỡi chàng ?”

Đó là cảnh một bạn gái cần lao hằng ngày phải trèo núi hoặc để hái củi, hoặc để cắt cỏ hoặc đề mua bán, đổi trác hóa vật với dân thổ mán, lăn lộn làm ăn vất vả, nên mới than vãn như thế với chồng hoặc với một chàng “ý trung” mà nàng gặp gỡ. 

Phải, với tính siêng năng chăm chỉ, một ngày nàng phải nhọc nhằn trèo leo đường núi gập ghềnh đến mấy lần, phần vì dùng sức quá nhọc mệt, phần vì mắng sém, mưa dầu, thì nhan sắc còn lấy đâu làm đẹp, nước da còn lấy đâu làm giòn được nữa ?

“Đèo” là chỗ lối eo thắt ở giữa khoảng hai dãy núi, rất hiểm trở khó khăn cho người đi qua. Thế mà người thiếu phụ kia một ngày phải ba lượt trèo đèo, đủ tỏ cái đức tính siêng năng chăm chỉ là thế nào ?

Khi trèo đèo, người thiếu phụ, lưng phải đeo rọ (như những phụ nữ thổ mán thường làm), vú phải nịt đỡ cho khỏi tức sữa, lần mò gian nan mới vượt được những quãng đèo hiểm trở. Đề làm gì ? Đề kiểm miếng “sinh sống”, giúp gia đình. Ấy là vì ai? Vì chồng, vì con, vì cái thiên chức thiêng liêng của người làm vợ, làm mẹ.

?

Đôi ta cố sức lên ghềnh: 

Em ra đứng mũi, để anh chịu sào,  

Thể phú. Ghềnh là chỗ nước chảy siết rất mạnh, dưới có đá ngầm lồm ngổm, cực nguy hiểm cho thuyền mành qua lại. Vì vậy, người ta thường dùng cái thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” đề chỉ về sự gì nguy nan, vất vả. 

Hai vợ chồng nhà này rất mực siêng năng, đồng lao động tác trong công việc khó khăn nặng nhọc. Ví như bơi thuyền vượt một cái ghềnh có hiềm tượng “khéo thì nổi, vụng thì chìm” kia, họ cùng nhau hăng hái trổ sức, vợ cầm mái chèo bơi ở đằng mũi thuyền, chồng cầm sáo chèo chở ở đuôi thuyền, vui vẻ phấn đấu với luồng nước chảy xô như thác, can đảm vượt khỏi những khúc gian nguy. Một khi đến được lòng sông phẳng lặng, thuận giòng bơi thuyền, vừa chèo, vừa hát, đi đến bến bờ hạnh phúc, ăn kết quả của công phu siêng năng chăm chỉ, còn gì sướng bằng!

Như vậy, họ có thể cười mỉa những kẻ chỉ quen chịu được những cạnh thuận mà không đủ nghị lực và can đảm để đối phó với cảnh nghịch, rồi đâm ra cáu nhau, cắn nhau khi gặp phải bước gian nan cực nhọc: “Thuận buồm, xuôi gió, chén chú, chén anh; lên thác, xuống ghềnh, mày tao chí tớ”!

?

Đội ta là nghĩa tao khang, 

Xuống khe bắt ốc, lên đàng hái rau 

Thể phú  “Tao khang” là “tấm cám”. “Nghĩa tao khang” là tình nghĩa vợ chồng lấy nhau từ thủa hàn vi nghèo khổ, không đủ gạo ăn, phải ăn độn cả tấm cám, “Khe” là một cái lạch phát nguyên từ trong núi đá chảy ra, tức là khe núi. “Lên đảng” cũng như “lên đường”,

Hai câu này ý nói hai chúng ta lấy nhau từ lúc nghèo nàn, ăn tấm cám, đã từng cộng tác với nhau trong cảnh làm ăn siêng năng, sinh sống vất vả: nào lúc bắt ốc ở trong khe núi, lúc hái rau ở bên đường cái, nếm trải nhiều “mùi” cần lao…

Khi hàn vi đã có nhau, thì lúc giàu sang sung sướng, vợ chồng ta không nên quên nhau, phụ nhau. Vậy nên người xưa đã nói: “ Tao khang chi thê bất khả há đường”; nghĩa là không nên để cho người vợ tao khang phải ra khỏi nhà mình. Ý nói không nên phụ bạc người vợ “ tấm cảm”, vì người ta đã đồng lao với mình trong những mẩu đời nghèo khổ gian truân.

?

Đàn ông học sẩy, học sàng, 

Đến khi vợ đẻ, phải làm mà ăn.

Thể phú. “Sẩy” nghĩa là cho gạo vào cái mẹt rung lên rung xuống, bắt những mảnh chấu ra ngoài. “Sàng” nghĩa là cho gạo xay vào cái sàng, một thứ đồ đan bằng tre, lớn bằng cái mẹt, thưa nan và to mắt hơn cái giần, rồi lắc lư rung rung, xoay đi xoay lại, khiến cho gạo thì lọt xuống mặt nia hứng ở dưới, có chấu thì tụ ở trên, bây giờ mới rón bốc lấy chấu mà loại bỏ ra. 

Ở nhà quê, người đàn bà, bình nhật, thường làm việc xay dã. Trừ ra những lúc sinh đẻ ở cữ, thì nhà “chuyên môn” ấy mới tạm phải lìa bỏ công việc rất cần ấy. Bây giờ nếu người đàn ông không biết sàng sẩy thì dù có thóc đấy cũng khó lòng làm được ăn đâu.

Muốn cho đàn ông có đủ tư cách để ứng phó với việc cần trọng khi người vợ “ nằm bếp”, thì bình nhật phải tập sự làm lụng, phải học cả công việc giần sàng là việc vẫn dành riêng cho đàn bà mọi khi, thì làm sự mới khỏi nhỡ nhàng lúng túng.

Hai câu này có ý khuyên người ta phải biết dự bị làm việc, phải siêng năng luyện tập cả những việc ngoài địa hạt mình đứng để phòng ứng phó với những lúc bất kỳ, như thế mới tránh được cái nạn gặp việc lạ lùng thì bỡ ngỡ bối rối.

GIẢN-DỊ, MỘC-MẠC 

Nông dân có tính rất tốt là ưa giản dị mộc mạc, vì họ nghĩ rằng “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, thà rằng đẹp nết còn hơn đẹp người”, Chính nhờ những tính tốt ấy của họ, ruộng đất mới có hoa lợi, căn bản quốc gia mới đuợc vững vàng.

Sẵn tính chất phác, họ lại đúng vào địa vị bình dân, sống trong cảnh cần lao, nên đời họ lúc nào cũng thường nhuộm một màu “giản dị mộc mạc”. 

Họ giản dị từ thức ăn cho đến đồ mặc: “ăn lấy đặc, mặc lấy dày”, chứ không chuộng xa hoa kiểu cách. 

Họ mộc mạc từ lời ăn tiếng nói đến cách hành động. Cái gì họ cũng “bánh đúc bay sàng”, chứ không “hoa hòe hoa sói”, “màu mỡ riêu cua” chi cả.

Nếu là người vợ mộc mạc, thì họ nói thẳng với chồng: “Chàng ơi, đừng phụ thiếp chi! Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng !”.

Họ cho rằng ở đời “hữu sạ tự nhiên hương”, không cần phải phô trương, quảng cáo. Nên mình là một cô gái đẹp thì thể nào cũng có tiếng tăm đồn đại khiến ai cũng biết, chứ cần gì phải nhí nha nhí nhảnh làm ra ta đây kẻ giờ. Phải, “Nếu đẹp đã có tiếng đồn, nọ là nhí nhảnh như trôn chích chòe” Vì họ nghĩ thế, nên họ có thể cứ sống một đời bình dị chất phác như một cô gái xuề xòa không làm đỏm, không theo thời trang.

Mục này sẽ giới thiệu với các bạn đọc những đức tính “ giản dị mộc mạc” ấy của nông dân.

?

Chồng người xe ngựa, người yêu; 

Chồng em khố đũi, em chiều, em thường. 

Thể phú. Một bạn gái mộc mạc thôn quê đã giàu tính giản dị, lại có cái quan niệm về ái tình rất cao thượng.

Chồng nàng chỉ là một anh “bố cu” đong chiếc khố đũi, thật không có cái gì đẹp đẽ trước con mắt thẩm mỹ của người ngoài, cũng không có cái gì là lộng lẫy, nghênh ngang trước cái hiếu thượng của lòng thế lợi, song nàng vẫn yêu chồng, vẫn chiều chồng, vẫn gây được hạnh phúc trong túp lều tranh tiều tụy.

Khi ra ngoài, thấy chồng người lên xe, xuống ngựa, sung sướng giữa cảnh phú quí vinh hoa, nàng chỉ chép miệng một cái, gạt phắt một lời: “Đó là chồng người. Mặc để người chiều, người yêu. Về phần ta, ta đã có bố cu nó để ta cưng, ta quí rồi, mặc dầu bố cu nó nhà ta chỉ là một anh chàng giản dị mộc mạc đóng có một chiếc khố đũi”. 

Hai cái này là một bức tranh tả vẽ hai cảnh khác nhau trong xã hội, hình dung được trái tim vàng ẩn trong áo nâu của hạng mẹ đĩ không tên không tuổi sau lũy tre xanh.

?

Đầu tôm nấu với ruột bầu, 

Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon ! 

Thể phú, Đầu tôm là phần không ngon trong con tôm, cũng như cái ruột bầu là phần đáng bỏ trong quả bầu. Vì sống một cách bình dị ăn uống một cách kiệm uớc, gia đình chất phác ấy nấu canh ruột bầu với đầu tôm là một món ăn, thực ra, chẳng có giá trị gì cả. Vậy mà, khi hai vợ chồng ngồi quây bên mâm cơm, nào chan canh, nào húp canh, ăn uống ngon lành, ai nấy tấm tắc khen: Canh ngon! canh ngọt!. Thế đủ rõ tâm lý dân quê thật quá đơn giản: một bát canh tầm thường cũng đủ làm thỏa mãn tấm lòng chất phác của họ.

Ngoài ý ấy ra, hai cầu trên nếu là ngụ giọng mỉa mai thì có ý nghĩa là: Ăn uống kham khổ như thế, bát canh vô vị như thế, vậy mà vợ chồng nhà ấy quê kệch không biết gì, đến nỗi cứ cắm đầu chan húp, khen lấy khen để… 

Còn một ý nữa: Hai vợ chồng nhà ấy, vì yêu thương nhau, thở hút trong bầu không khí hòa thuận, không chán nản vì nghèo khổ, không buồn rầu vì gặp phải cảnh ngộ hẩm hiu, cứ hăng hái, cứ vui sống, nên đối với món ăn rất xoàng xĩnh, song họ vẫn ăn uống một cách ngon lành, “húp hòa khí” trong bát canh cực đạm bạc.

HOA-BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)