Tiếp theo của phần I

Trong bảng chia loại phong dao đã đăng ở Tri Tân số 3, tôi đặt chương “Nông dân với kinh tế” lên đầu, nhưng nay vì một cớ riêng, chưa thể đi theo cái bố cục đã vạch sẵn ấy được.

Nay xin đổi lại thứ tự “ Đầu ” chương “Nông dân với nhân sinh triết học” đi trước, rồi cho ra mắt các bạn dần dần. 

Trong khi viết tiếp, tôi cứ tùy nghi mà thêm, bớt hoặc sửa đổi lại cái bảng chia loại ấy cho được thích hợp hơn, chứ không câu nệ buộc phải theo đúng bố cục trước. Mong rằng các bạn đọc thân yêu, hễ thấy chỗ nào khuyết điểm, xin cứ làm ơn chỉ giáo cho.

CHƯƠNG THỨ NHẤT 

Nông dân với nhân sinh triết học

Tiết một 

LUÂN-LÝ ĐỐI VỚI BẢN THÂN

SIÊNG NĂNG 

Đức tính siêng năng của nông dân thật đã tỏ rõ ở trong công việc đồng áng với hai bàn tay lúc nào cũng thường lấm, trong họ có những sinh sản lực đáng quí báu, đáng biểu dương.

Ngoài việc nông tang, chài lưới, họ cũng không sao nhãng những bổn phận đối với bản thân, đối với gia đình, đối với xã hội.

Thân em như là đài bi, 

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầu sương. 

Với tấm thân cứng cáp, rắn rỏi, chịu đựng và nhẫn nại ấy họ cứ hăng hái làm việc dưới sức bức bách dọa nạt của nắng đốt thịt, sương cắt da. Vì họ nghĩ :

Có khó mới có miếng ăn, 

Ngồi dưng ai để mang phần đến cho ? 

Phải, chúng ta “phải làm đổ mồ hôi trán mới có cái ăn”, chứ giữ tính ỷ lại, ngồi gửi hi vọng vào “gốc cây sung” thì chẳng những không thể kiểm được miếng ăn trong sự ưa may hú họa, mà lại mang tiếng là lười biếng, là ngu xuẩn nữa. 

Muốn cho được việc trong khi có dịp thuận tiện đưa đến, người ta cần phải lo xa một chút, dự bị sẵn sàng. Như vậy đối với những việc thình lình xảy tới, mà mình cũng có đủ cách ứng phó, không đến nỗi bối rối, nhỡ nhàng. Người siêng năng có con mắt nhìn xa, thấy trước ấy có thể mát mẻ những kẻ không biết dự bị làm việc:

Ngồi rồi, sao chẳng se gai,

Đến khi có cá, mượn chài, ai cho? 

Đã lo xa, đã dự bị tiến thủ, thì dẫu:

Một mình vừa chống, vừa chèo, 

Không ai tát nước đỡ chèo một khi,

Người siêng năng bao giờ cũng cứ hăng hái làm việc, không tị nạnh với ai, không trông cậy vào lưng ai, nên rồi cũng thành công, hái được kết quả tốt đẹp: 

Có công mài sắt, có ngày nên kim. 

Những nhân vật có đức tính tốt ấy, tôi xin giới thiệu vào mục “siêng-năng” này.

Chồng chài, vợ lưới, con câu, 

Sông Ngô, bể sở, biết đâu là nhà !

Thể phú. Đó là tả một gia đình ngư ông, cha con vợ chồng đồng lao, cộng tác trong nghề chài lưới.

“Chài lưới” và “cân” đây đều là ba tiếng động từ. Đánh cá bằng cái lưới hoặc cái giùng (thứ lưới to) gọi là chài lưới. Kiếm cá bằng lưỡi câu, giây cước và cái cần gọi là câu, Trong công việc kiếm cá, duy có câu là nhẹ nhàng và dễ làm hơn: dù trẻ bé cũng có thể câu cá được.

Xem thể đủ biết, khi chia việc. người ta đã theo cái tỉ lệ mà phân phối cho từng người khiến ai nấy tùy theo sở năng mà làm hết phận sự.

Một gia đình nhà chài kiếm ăn trên mặt sông bể, nay đây mai đó, lênh đênh trước gió, dưới mây, còn có nhất định lấy đâu làm nhà nữa ?

Trời mưa Trời gió! long long 

Cha con ông Sùng đi gánh phân trâu 

Đem về trồng bí, trồng bầu, 

Trồng hoa, trồng quả, trồng trầu, trồng cau

Thể phú. Đó là bức tranh tả chân cái cảnh cần lao chăm chỉ của một gia  đình nông phu, chủ nhân tên là Sùng đang hăng hái làm phân sự.

Nước ta xưa, lấy nghề nông làm căn bản. Nông vẫn có thể tự hào mà nói với sĩ rằng: “ Hết gạo, chạy rông : nhất nông, nhì sĩ ! ”.

Phải, nông đáng nhất thật, trời đang mưa ào ào, gió đang thổi dào dào, thể mà ông Sùng

một người tiêu biểu của nhà nông long tong, tất tả cùng con xông pha mưa gió, đi gánh phân trâu đem về làm đồ bón cho hoa màu, cho vườn ruộng Trước tấm nhiệt thành tận tụy với thiên chức ấy, ai chẳng cảm động, tôn sùng ?

“Bầu, bí”  đều là những thứ dùng làm đồ ăn

Phong dao thường có những câu nói về bầu. bí như :

Cắt giây bầu, giây bí, 

Chứ ai cắt giây chị, giây em ?

Và : 

Bầu già thì vứt xuống ao, 

Bí già đóng cửa làm cao lấy tiền.

 Lại như: 

Bầu ơi thương lấy bí cùng: 

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Ai đem em đến chốn này ?

Thức khuya, dậy sớm, mắt cay như gừng !

Thể phú. Phong nhân tả một bạn gái đi làm dâu hoặc “bị đày” vào một gia đình cay nghiệt nào, vì phải làm lụng nhiều, vất vả quá, lúc nào cũng “đói” ngủ đến nỗi em thường cay mắt, như ăn phải gừng cay.

Nếu là người chủ động tự thân, thì hai câu ấy có ý oán trách kẻ đã đặt mình vào cảnh ngộ “giấm chua lửa nồng” ấy khiến mình phải vất vả, khó nhọc, khổ sở như thế này.

Nếu là người ngoài thấy cảnh một “ em ”phải thức khuya, phải dậy sớm, phải mắt cay đó mà phát ra mấy câu trên, thì là những lời cám cảnh và thành nàn cho số phận người vất vả ấy !…

Ngày ngày hai bữa cơm đèn !

Còn gì mà phấn, răng đen, hỡi chàng ? 

Thể phú. Đây là lời một thiếu phụ nghèo phải lăn lộn làm ăn, không chăm giữ được sắc đẹp lên tiếng than vãn cùng chồng.

Xưa, phụ nữ ta lấy hàm răng đen nhánh làm đẹp, nên các cô lớp trước thường tỏ nguyện vọng trong những câu: “ Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng, răng đen ”. Mà quan niệm của phái mạnh xưa đối với sắc đẹp cũng khác bấy giờ. Các cụ ông xưa vẫn cho bộ “răng đen” là tiêu biểu cái đẹp của đàn bà Việt Nam, nên các cụ mới “ cảm ” trước vẻ nên thơ của cải đẹp ấy: “… Bốn thương răng nhuộm hạt huyền kém thua ” 

Vì xưa đã lấy “ răng đen ” làm tiêu biểu cho cái đẹp của đàn bà, nên trong hai câu trên, người thiếu phụ cũng “ phân bua ” và  “ phàn nàn ” cùng chồng:

– Chàng ơi, em đây hết ngày này qua ngày khác, sáng nào cũng phải dậy từ gà gáy, đêm đến, hết trống canh một mới về đến nhà, rồi mười bữa như cả một chục, em cứ phải ăn cơm dưới ánh đèn mù mờ 

Gái này đã vất vả nhọc nhằn trong việc sinh nhai như thế này thì, chàng tính, còn gì là má phấn ? còn gì là răng đen? còn gì mà không giảm sắc xuân, kém vẻ đẹp nữa ?

Chẳng hay, trước những tiếng than thở thành thực ấy, anh chồng có cảm động không ?

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn