Trong một tập thư cũ của Hội Truyền giáo xuất bản tại Paris năm 1821 (Nou velles Lettres édifiantes des Missions de la Chine et des Indes orientales, quyền Vitrang X) có một câu rằng : “Vua trị vì bây giờ (là vua Gia Long, 1802-1819) đã đổi tên An Nam làm tên Việt Nam và đã cấm dùng tên An Nam”. (1)

Tại sao ?

Tại An Nam là tên của Tầu đặt cho từ ngày nội thuộc; nếu người mình đem ra dùng khi nói chuyện hay viết sách viết báo, thì thế nào cũng có cái vẻ thần phục: xem quyển An Nam chí lược của Lê Tắc cũng đủ biết. 

Quyền Từ Nguyên chép “đời thượng cổ An Nam là đất trăm nước Việt; tự nhà Tần, nhà Hán đến nhà Đường, vào bản đồ Trung Quốc; nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ ở Giao Châu: tên nước An Nam thực bởi đấy mà khởi ra ”.

Quyền Việt Nam tự điển (trang 5) của Hội Khai-trí-tiến-đức lại nói “ đến đời Trần mới lấy làm tên nước ”: như thế thì sai, vì quyền Đại Nam quốc sử diễn ca có chua ở mục “ Quốc hiệu thông khảo ” một câu rằng: 李 英 宗 時, 宋 改 交 阯 郡 為 安南 國, 稱 國 始 此 “ Thời Lý Anh Tôn (1138 – 1175) nhà Tống đổi quận Giao Chỉ làm An Nam quốc, xưng quốc mới tự đây ”.

Sách Tầu cũng chép như thế: bộ Văn hiến thông khảo (quyền 330, trang 27) nói vua Cao Tôn nhà Tống thấy vua Thiên Tộ nhà Lý (Lý Anh Tôn) “ nối ngôi bốn mươi năm, cho nên hậu lễ phong cho là  “ An Nam quốc ”; sau khi được da phong, dần dần tự tôn lên, xưng là nước, từ đấy không đội nữa ”.

Bộ Văn hiến thông khảo còn chép một vài tên nữa như sau này: “ Khoảng năm Thiên Hy (1017-1021) tiến phong Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ, 1009-1028) làm Nam bình quân vương… Kiền Đức (Lý Nhân Tôn, 1072-1127) lại vào triều cống, xin trả lại những chân huyện đã cướp; vua Tần chiếu bảo cho biết rằng : “ Ngươi coi có đất Nam Giao…) v. v. 

Quốc sử diễn ca không chép Nam Giao, chi chép có Giao Nam, Giao Chỉ và Giao Châu. Ba tên hiệu này, nhiều nhà sử học đã nghiên cứu đến; nay muốn kiếm tiềm lại, phải viết đến một quyển sách con. Vậy chỉ xin nhắc lại rằng kinh Thư có chép Namgiao, mà kinh Lễ thì nó: 南方曰蠻,雕題交趾 “ Phương Nam gọi là Mán, chạm khắc vào trán, ngón chân cùng hưởng với nhau, nên gọi là Giao Chỉ.

Còn Giao Châu vốn là một bộ thuộc của đất Việt Thường, nay là cõi Quảng Đông, Quảng Tây; trong sử Nam nói là tên gồm những khi Bắc thuộc: Đường Cao Tổ, năm Võ Đức thứ năm (tức là năm 622) đổi Giao Châu làm An Nam đô hộ phủ; Túc Tôn năm Chi Đức thứ ba (758) đổi là Trấn Nam; Đại Tôn năm Đại Lịch thứ ba (768) lại đổi làm An Nam. 

Trước Tây lịch kỷ nguyên, vào khoảng năm 207, Triệu Đà (Triệu Võ Đế, 207-137) đặt tên nước là Nam Việt 南 越 (có chỗ viết là 南 粤); nay Nam Việt là đất Quảng Đông, Quảng Tây.

Nhưng đó toàn là tên của Tầu đặt ra, 

Tên của ta đặt lấy là những tên gì ?

Sử chép đời Hồng Bàng đặt là Văn Lang.

Thục An Dương Vương (257-208 trước kỷ nguyên) đổi làm | Âu lạc.

Lý Nam Đế (544-548) đặt là Vạn Xuân.

Đinh Tiên Họàng (968-979) đặt là Đại Cổ Việt.

Lý Thánh Tôn (1054-1072) đặt là Đại Việt.

Gia Long (1802-1819) nhất thống cả ba kỳ (Trung, Nam, Bắc) đặt là Việt Nam. | Lúc đầu người Âu gọi Trung kỳ và Nam kỳ là Cochin-Chine (viết làm hai chữ): Cochin do chữ Giao Chỉ mà ra, người Tầu thì đọc là Kiao-tche, người Bồ Đào Nha đọc là Cauchi, người Mã lai đọc là Katchi. Ấn Độ cũng có tỉnh Kutchi, nên người Âu thêm chữ China, vị chi CochinChine, nghĩa là Giao chỉ ở phía Trung Hoa (xuất xứ ở tập kỷ yếu của trường Bác Cổ, quyền III, trang 299).

Sau người Pháp muốn phân biệt rõ ràng, gọi Trung kỳ là Cochinchine, Nam kỳ lục tỉnh là Basse – Cochinchine (Basse là dưới), nhưng chưa gọn, nên đổi Trung kỳ là An Nam, Nam kỳ là Cochinchine, còn Bắc kỳ thì gọi là Tonkin (do chữ Đông Kinh mà ra)

Khoảng năm Minh-mạng (1820- 1840, quốc hiệu cả ba kỳ đổi làm Đại Nam. Những sách chữ Hán nói về nước ta từ hồi đó đều gọi là Đại Nam hội điền, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực-lục, v.v….

Đáng lẽ bộ Việt Nam tự điển của hội Khai trí cũng nên đề là Đại Nam tự điển,

Tất có người bảo: “ Làm gì mà tự cao, tự đại thế ?” 

Xin trả lời rằng: Quốc Hiệu “ Đại Nam ” đặt ra chưa thấy đồi, thì việc gì tự ý mình lại đổi đi ? Da dĩ có người bắt chước người ngoại quốc nói; “ nước An Nam, người An Nam ”, thì sao ta lại không tự trọng mà giữ lấy cái quốc hiệu “ Đại Nam ” sẵn có ? Đối với nước nhà, tự hạ quá chưa chắc đã là việc hay.

Ưng hòe – Nguyễn Văn Tố

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Nguyên văn là : “Le roi qui règne ma ntenant a substitué le nom de Việt-nam à celui d’An-nam, et a fait défense de se servir de ce dernier nom”.