Từ xưa đến nay, những quyển niên-biên chép các đời vua chúa nước ta đều chép cả chính-thống lẫn tiếm-ngụy, như Lê với Mạc, nhưng lại gác bỏ bà Trưng ra ngoài: bà làm vua từ năm 40 đến năm 43, mà không có một quyển niên-biểu nào chép tới ! Xem như quyển niên-biểu của Trường Bác-cổ (Tableau chronologique des dynasties annamiles của ông L. Cadière đăng trong quyển thứ V, trang 77-145), chỉ thấy chép đời Hồng-bàng từ năm 2879 đến năm 258 trước kỷ-nguyên, đời nhà Thục từ năm 257 đến năm 2008, nhà Triệu từ năm 207 đến năm 111, rồi chép đến thời Bắc-thuộc từ năm 111 trước kỷ-nguyên đến năm 543 sau kỷ-nguyên (tức là gồm cả Trưng-vương), sao chép đến nhà Tiền-Lý (544-548) và thời tự-chủ, chứ không thấy chép chi đến bà Trung. 

Tại sao vậy ? Tại sử Tàu chép bà “làm phản” (Hậu-Hán thư, quyển nhất B, tờ 5b) mà sử ta thì nói rằng: “Xét từ đời Hùng-Lạc về sau, quốc-thống mất đã lâu, đến đây (là năm 40) bà Trưng tự lập, sử cũ vội cho là chính-thống; nhưng xét ra họ Trưng dựng nước trước sau có ba năm, vọt nổi lên lại mất ngay, như thế chưa có thể gọi là nước được (!); bởi vậy theo lối chép sử liệt quốc, chua niên-hiệu bà vào bên phải, trên niên-hiện nhà Hán”.

Lời bàn vô-lý ấy là lời của sử-thần Ngô-thời-Sĩ viết bằng chữ nho trong bộ Đại-Việt sử-ký tiền biên (ngoại kỷ, quyển thứ ba, tờ 4a) khoảng năm 1775. Nhưng có những nhà sử thảo bàn xác-đáng hơn, như ông Lê-văn-Hưu và ông Nguyễn-Nghiễm.

Ông Lê-văn-Hưu, về đời vua Trần-Thái-Tôn (1225-1258), nói rằng: “Bà Trắc và bà Nhị là người đàn-bà, hô lên một tiếng mà quận Cửu-chân, quận Nhật-nam, quận Hợp-phố và 56 (chứ không phải 65) thành ở Lĩnh-ngoại đều hưởng-ứng hết, dựng nước, xưng vương, dễ như dở bàn tay; thế mới biết hình-thế nước Việt ta đủ làm nổi nghiệp bá-vương. Tiếc rằng từ sau khi họ Triệu mất (năm 111 trước kỷ-nguyên) đến trước khi họ Ngô (năm 939 sau kỷ-nguyên) day lên, hơn một nghìn năm, bọn con giai chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi-tớ người Tàu, không biết xấu-hồ với hai bà Trưng là người con gái. Ôi! thế là mình tự-khí lấy mình vậy ! (Đại-Việt sử-ký tiền-biên, ngoại-kỷ, quyển ba, to 6 a).

Ông Nguyễn-Nghiễm làm quốc-sử tổng-tài hội Lê Long-đức (1732-1735) và Lê-Vĩnh-Hựu (1735-1740) bàn rằng: “Xét từ khi Nghiệt-Cù (vợ Triệu Minh-vương) gây nạn, Nguyên-đỉnh (niên-hiệu nhà Hán) cùng binh, bảy quận Kiểu-nam bị người sai khiến: các quan sô-mục, trừ hai ông Tích-Quang, Nhâm-Diên ra ngoài, còn Thạch-Đái, Chu-Chương, không có chính sách gì hay, lòng lại tham, chính lại dữ, dân không chịu nổi, như Tô-Định há lại để cho một ngày mặc ý làm căn ư! Trưng-vương là dòng-dõi thần-minh, nhân lòng dân ta-oan, bà nổi cơn giận, khuyến-khích đồng-cừu: nghĩa binh tới đâu, xa gần đều ứng; đất Lĩnh-ngoại 65 thành, thu-phục trong một lúc; những dân bị rầy-vò khô-sở đã lâu, ví như dưới giếng sâu, nay được thấy mặt giời, anh-hùng khí-khái, hẳn có hơn người. Tuy là quân mới họp tập, nên không thành công, song cũng có thể hả được cái lòng giận của giời, đất, thần, nhân, hoặc có cảm chăng. Họ Triệu là cơ-nghiệp phú-cường, mất về một tay người đàn bà ở Hàm-đan (là Cù-hậu); Thần châu bị người lấy mất, khôi-phục được lại là một bà nữ chủ ở Mê linh. Những người tu-mi nam-tử hồi bấy giờ cúi đầu quắp đuôi, không dám làm gì, chẳng cũng đáng ngậm-ngùi lắm thay lo (Đại-Việt sử-ký tiền biên, ngoại ký, quyển ba, tờ 6 a-b).

Vua Tự-đức (1848-1883) cũng phê một câu na-ná như thế trong bộ Khâm-định Việt-sử thông-giám cương-mục (tiền biên, quyển thứ hai, tờ 12B). Lời ngự-phê dịch ra như sau này: “Hai Bà Trưng là bọn quần-thoa, mà có lòng anh-hùng, làm việc nghĩa-khi, chấn-động đến Hán-đình; tuy thế cô thời trái, nhưng cũng đủ hưng-khởi lòng người để làm gương sáng trong sử sách. Kìa. những người nam-tử tu-mi khép áo làm đầy-tớ người, chẳng cũng mặt dày xấu-hồ chết được ư !” Đọc bấy nhiêu thời bạn cũng đủ hiểu rằng bổn-phận của ta là phải tôn hai bà Trưng lên bậc liệt-nữ thứ nhất nước nhà, và ghi năm 40-43 vào niên-biểu chính-thống, chứ không nên cho là “phản-nghịch” như lời Lê-Tắc viết trong quyển An-nam chí-lược (q. 15, tờ 8 b). .

Mỗi khi chép sử hay dạy sử, nghĩa vụ của ta là phải nhớ lấy rằng từ thời lập quốc ra không kể, nước Nam ta đã biết tự-chủ ngay từ hồi bà Trưng, vào đầu thế-kỷ thứ hai, chứ không phải từ đời nhà Tiền-Lý, về thế-kỷ thứ sáu.  

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)