CARLA PEETERS

Ngày nay, càng có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh rằng miễn dịch tự nhiên sau nhiễm trùng cung cấp khả năng bảo vệ lâu dài tốt hơn nhiều so với miễn dịch sau khi chích vaccine COVID-19. Một số chính phủ đã tập trung vào việc chích ngừa bắt buộc. Tuy nhiên, miễn dịch tự nhiên và một hệ miễn dịch khỏe mạnh là những gì thực sự cần thiết để chúng ta có thể xây dựng sự bảo vệ đầy đủ và cộng đồng dân số khỏe mạnh hơn.

Tại hầu hết các quốc gia Tây phương, những người dễ bị tổn thương, và các nhóm có nguy cơ cao đã được chích ngừa bằng một trong bốn loại vaccine COVID-19 “được cấp phép sử dụng khẩn cấp” (EUA). Tuy nhiên, tại các quốc gia có tỷ lệ chích ngừa cao nhất (Israel, Iceland, và Anh), chúng tôi quan sát thấy con số dương tính lại rất cao. 

Các xét nghiệm dương tính được gọi là ca nhiễm hoặc trường hợp nhiễm bệnh, có thể đúng hoặc có thể không đúng (ví dụ: xét nghiệm PCR có thể không phân biệt giữa nhiễm trùng đang hoạt động hay nhiễm trùng trước đó).

Trái ngược với những kỳ vọng thổi phồng, có vẻ như những người đã được chích hai liều vaccine vẫn có thể cho kết quả dương tính, có tải lượng virus cao, có khả năng lây truyền virus, và cuối cùng phải nhập viện. Hiệu quả của việc chích ngừa dường như đang giảm đi hoặc biến mất. Cách tiếp cận “ai ai cũng như nhau” có thể đi vào ngõ cụt nếu chúng ta tiếp tục theo đuổi chiến lược một chiều hiện tại, trong đó chỉ tập trung vào một loại virus.

Tại Anh quốc, nhiều nhà miễn dịch học đã lên tiếng về sự nguy hiểm của hệ miễn dịch suy yếu trong toàn bộ dân số – khiến cho nguy cơ nhiễm trùng và các bệnh kinh niên tăng lên. Kết quả của chính sách phong tỏa và các biện pháp như giữ khoảng cách một mét rưỡi và đeo khẩu trang đã dẫn đến hậu quả là hệ thống miễn dịch ở nhiều người có thể đã suy yếu hơn so với những ngày trước đại dịch.

Miễn dịch bẩm sinh là cơ chế bảo vệ đầu tiên và không phải là loại cơ chế đặc hiệu. Nó ngăn chặn các sinh vật gây bệnh tiềm ẩn. Hệ thống này được hình thành bởi các rào cản vật lý, chẳng hạn như da, nước bọt và màng nhầy. 

Miễn dịch thích ứng xảy ra khi mầm bệnh có thể phá vỡ hàng rào đầu tiên. Các tế bào từ hệ miễn dịch bẩm sinh đưa các mảnh của mầm bệnh hoặc chất lạ vào tế bào B và tế bào T của hệ miễn dịch thích ứng.

Tế bào B chịu trách nhiệm cho việc tạo ra các kháng thể. Các kháng thể được hình thành di chuyển tự do trong máu và có thể gắn kết với các mầm bệnh lạ. Phức hợp mầm bệnh–kháng thể sau đó được các đại thực bào cùng những tế bào miễn dịch khác phá vỡ và tiêu diệt. Ngoài ra, các tế bào T nhắm trực tiếp vào các mầm bệnh đã xâm nhập vào tế bào để có thể tiêu diệt các tế bào bị nhiễm bệnh này, và mặt khác, tăng cường và tái tạo lại phản ứng kháng thể của các tế bào B.

miễn dịch tự nhiên suy yếu 
Tế bào bạch cầu B, loại tế bào lympho sản xuất các phân tử kháng thể. Tế bào B là thành phần miễn dịch dịch thể của hệ thống miễn dịch sản xuất kháng thể, bảo vệ chống lại các tác nhân gây bệnh: vi khuẩn, virus. (Ảnh: Corona Borealis Studio / Shutterstock)

Các tế bào B và T có thể phát triển thành các tế bào ghi nhớ và được kích hoạt nhanh hơn nhiều trong lần lây nhiễm tiếp theo so với lần nhiễm đầu tiên. Tế bào trí nhớ có đáp ứng kháng thể tăng, thường có liên kết mạnh hơn với protein của mầm bệnh, và phản ứng rộng hơn đối với nhiều mảnh của protein (epitope). Nguyên lý miễn dịch này biểu hiện trong các bệnh nhiễm trùng tự nhiên và cả sau khi chích ngừa.

Trẻ em và người lớn ít tiếp xúc với các virus và vi khuẩn khác có hệ thống miễn dịch ít bị thách thức hơn, và do đó ít được ‘rèn luyện’ hơn. Các cộng đồng biệt lập với những người không tiếp xúc với mầm bệnh trong một thời gian dài và thiếu khả năng miễn dịch đã ghi nhận những đợt bùng phát các bệnh truyền nhiễm, ví dụ: dịch bệnh ho gà vào năm 1908 và 1918 ở Papua New Guinea.

Ngoài ra, những yếu tố có thể thay đổi như cách ăn uống và lối sống, tiếp xúc với các chất độc hại thông qua việc sử dụng chất khử trùng và khẩu trang thường xuyên, và sự gia tăng căng thẳng cũng đóng một vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, béo phì là một tình trạng có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của COVID-19; và chính sách phong tỏa đã dẫn đến tỷ lệ béo phì cao hơn ở Anh, Mỹ, và các quốc gia Tây phương khác. Béo phì từ lâu đã có liên quan đến tiên lượng các bệnh nhiễm trùng do virus và đã được công nhận là một yếu tố tiên lượng cho kết cục lâm sàng xấu hơn và tử vong cao hơn trong đại dịch H1N1 2009.

Ngược lại với tình trạng béo phì của đại dịch, chúng ta cũng thấy vấn đề suy dinh dưỡng liên quan đến nguy cơ viêm phổi và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ngày càng tăng. Vấn đề dinh dưỡng, do thừa hoặc thiếu dinh dưỡng, và hậu quả là rối loạn chức năng miễn dịch có thể gây ra những thiệt hại to lớn trong nhiều năm và cho các thế hệ sau. Sự bùng phát của bệnh lao đang gây lo lắng sâu sắc.

Sử dụng ma túy cũng đã gia tăng trong đại dịch COVID-19. Thống kê từ Hà Lan báo cáo rằng tình trạng sức khỏe tâm thần ở Hà Lan trong quý đầu tiên của năm 2021 là thấp nhất trong hai mươi năm qua. Báo cáo của Nivel cho thấy việc sử dụng thuốc an thần ở thanh niên từ 15–24 tuổi đã tăng lên trong quý đầu tiên của năm 2021.

Điều này đã được nhận thấy trước đây tại Anh và Hoa Kỳ. Đại dịch đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các rối loạn trầm cảm và lo âu ở phụ nữ (28%) và thanh thiếu niên (26%) trên toàn cầu. Tỷ lệ bệnh nhân sa sút trí tuệ được kê đơn thuốc chống loạn thần kinh cũng tăng lên đáng kể. Có nhiều người bị chứng sa sút trí tuệ tử vong hơn vào năm 2020 so với những năm trước ở Anh.

Những nghiên cứu về Miễn dịch Thần kinh Tâm lý đã chứng minh rằng sức khỏe tâm thần rất quan trọng đối với một hệ miễn dịch lành mạnh. Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự gia tăng trải nghiệm căng thẳng với nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp trên và tỷ lệ tử vong. Người ta đã tìm thấy mối liên hệ tổng thể đáng kể giữa tính nhạy cảm với nhiễm trùng huyết và quá trình lão hóa sinh học nhanh chóng cũng như mối liên hệ tiêu cực giữa mức cytokine trung bình và căng thẳng kinh niên. Các yếu tố này diễn ra trong thời gian dài có thể làm suy yếu hệ miễn dịch tự nhiên và hệ miễn dịch thích ứng, đồng thời làm trầm trọng thêm kết cục của bệnh tật.

Tính hiệu quả của hệ miễn dịch tổng thể là rất quan trọng khi cơ thể gặp phải các chất lạ, mầm bệnh (tác nhân gây bệnh) hoặc, ví dụ, tế bào ung thư. Các nghiên cứu về hiệu quả của vaccine cúm đã chỉ ra rằng người lớn tuổi có thể không tạo ra đủ hiệu quả với vaccine cúm do hệ miễn dịch bị lão hóa. Đó là lý do vì sao chúng ta nói về immunosenescence – là sự suy giảm dần dần khả năng miễn dịch của con người do quá trình lão hóa tự nhiên. 

Do đó, mặc dù có người đã chích ngừa nhưng cơ thể vẫn không thể tạo ra hệ thống phòng thủ hiệu quả. Một nghiên cứu ở Na Uy về một trăm người già dễ bị tổn thương tử vong ngay sau khi chích vaccine COVID-19 cho thấy khả năng miễn dịch suy yếu có thể đóng một vai trò nào đó. Ngoài người cao tuổi, những người có các bệnh kinh niên như thấp khớp, đa xơ cứng, hoặc sau khi cấy ghép nội tạng cũng có thể bị suy yếu khả năng miễn dịch.

Một tỷ lệ đáng kể những người có bệnh kinh niên tham gia vào một nghiên cứu của Hà Lan đã không thể tạo ra phản ứng kháng thể tốt sau hai lần chích ngừa với một trong bốn loại vaccine COVID-19. Họ có cần liều vaccine thứ ba không? Kết quả của việc này vẫn chưa được biết. Vì hệ miễn dịch của họ không hoạt động tối ưu và vaccine cho lần chích thứ ba vẫn là vaccine tương tự, nên không có cải thiện lớn nào có thể được mong đợi. Cho tới thời điểm hiện tại, EMA và ECDC không thấy nhu cầu cấp bách về liều bổ sung thứ ba cho các nhóm dân số khỏe mạnh. 

Chích ngừa sẽ không cung cấp sự bảo vệ tốt cho tất cả mọi người. Đa số những người hiện đã được chích ngừa không biết liệu họ đã xây dựng được kháng thể và/hoặc miễn dịch tế bào T hay chưa. Cũng có thể nếu không chích ngừa, miễn dịch sau nhiễm virus SARS-CoV-2 có triệu chứng hoặc không có triệu chứng, hoặc nhiễm virus coronavirus khác trước đó đã đủ hiệu quả rồi. 

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature chứng minh rằng 17 năm sau khi nhiễm virus SARS CoV-1 tự nhiên, phản ứng chéo của tế bào T với virus SARS-CoV-2 vẫn còn tồn tại. Đó là một giả thuyết đi kèm với tỉ lệ béo phì thấp giải thích vì sao các quốc gia Á châu có ít trường hợp tử vong do COVID-19 mặc dù có rất nhiều trường hợp bị nhiễm bệnh. Nhiều nghiên cứu khoa học, hơn một chục nghiên cứu năm 2021, đã chỉ ra rằng miễn dịch tự nhiên cung cấp khả năng bảo vệ tốt hơn miễn dịch sau khi chích ngừa vaccine COVID-19. Một nghiên cứu của Israel cho thấy sau khi nhiễm trùng tự nhiên, nguy cơ tái nhiễm thấp hơn 27 lần và nguy cơ nhập viện ít hơn 8 lần so với sau khi chích ngừa.

Một nghiên cứu khác cũng chứng minh miễn dịch tự nhiên lâu bền hơn. Điều này có thể liên quan đến thực tế là miễn dịch tự nhiên tạo ra một phản ứng miễn dịch rộng hơn chống lại nhiều loại protein áo virus hơn. Miễn dịch dịch thể và tế bào đặc hiệu SARS-Cov-2 tồn tại ít nhất cho đến một năm sau khi bệnh khởi phát.

Ngay cả trước khi vaccine COVID-19 có mặt trên thị trường, các nhà khoa học đã cảnh báo về nguy cơ tăng cường phụ thuộc kháng thể (ADE) có thể xảy ra.

Hệ thống miễn dịch bẩm sinh và thích ứng có thể suy giảm sau khi chích vaccine mRNA, dẫn đến nguy cơ bị nặng hơn trong các trường hợp nhiễm trùng tiếp theo, như được chỉ ra trong một nghiên cứu chưa qua bình duyệt. Ngoài ra, một loạt các tác dụng phụ đối với vaccine COVID-19 đã được ghi nhận cho VAERS, MHRA, và Eudravigilance, nhiều hơn nhiều so với các vaccine trước đó. Do đó, các chuyên gia vẫn đang tranh luận để phân tích dữ liệu kỹ lưỡng về lợi ích–rủi ro của mũi chích nhắc lại…

ADE là hiện tượng nổi tiếng được quan sát thấy trong quá trình phát triển vaccine coronavirus trước đây. Điều này có nghĩa là cơ thể tạo ra kháng thể, nhưng không có khả năng vô hiệu hóa virus; vì vậy, bằng cách liên kết với các kháng thể có trên tế bào, virus có thể xâm nhập vào tế bào và nhân lên dễ dàng hơn.

Trong một nghiên cứu về các ca nhiễm đột phá tại San Francisco, California, các ca nhiễm đột phá được phát hiện có liên quan đến mức độ kháng thể trung hòa thấp hoặc không thể phát hiện được do tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc nhiễm trùng do dòng kháng thể kháng. Điều này được một số nhà khoa học xem là một lời giải thích khả dĩ cho những trường hợp tái nhiễm sau khi chích ngừa. Nghiên cứu từ Mayo Clinic và Đại học Boston cho thấy sáu tháng sau mũi chích thứ hai của vaccine Pfizer, hiệu quả của vaccine giảm từ 76% xuống 42%, và với Moderna từ 86% xuống 76%.

Mặc dù các chính trị gia trên toàn thế giới đang nói về một số mũi chích với cùng một loại vaccine, các nhà khoa học ở Iceland, Anh và Mỹ vẫn do dự về điều này. Miễn dịch tự nhiên có thể cần thiết để xây dựng sự bảo vệ đầy đủ trong quần thể dân số. Hiện virus này đã trở thành dịch bệnh lưu hành và có tỷ lệ sống sót là 99.410% đối với người dưới 69 tuổi và hơn 99.997% đối với thanh niên dưới 19 tuổi.

Các kháng thể do vaccine tạo ra dường như giảm đi sau 6 tháng. Sự hiện diện không thể đo lường của các kháng thể không phải lúc nào cũng có nghĩa là con người không còn miễn dịch. Sau khi bị nhiễm trùng tự nhiên, các tế bào B sản xuất kháng thể vẫn có thể phát hiện được trong tủy xương sau khi các kháng thể đo được trong máu biến mất – điều này cho thấy khả năng cơ thể có thể phản ứng nhanh sau khi tái nhiễm. Một khảo sát với các nhân viên y tế tại Phòng khám Cleveland, cho thấy rằng việc chích ngừa cho những người đã trải qua một đợt nhiễm trùng tự nhiên là không có ý nghĩa.

Một số nhà miễn dịch học người Anh giải thích rằng sự bùng phát các trường hợp nhập viện do nhiễm RSV (virus cảm lạnh) ở trẻ em ở South Wales và Úc Châu có thể là hậu quả của chính sách phong tỏa đã dẫn đến việc ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch. Sự gia tăng virus RSV ở trẻ em và những người bị nhiễm nấm đen trong phổi trong ICU cũng đã được báo cáo gần đây tại Hà Lan và Bỉ.

Những bệnh nhiễm trùng này hiếm khi xảy ra đơn lẻ và thường gặp trên những người có hệ thống miễn dịch rất yếu. Khi áp lực từ việc phong tỏa, can thiệp không dùng thuốc, và chích ngừa quy mô lớn chỉ nhắm vào một loại protein của virus tăng lên, thì càng có nhiều khả năng các đột biến xảy ra ở virus có thể gây nguy hiểm hơn cho các nhóm dễ bị tổn thương.

Giờ đây, phần lớn xã hội đã được chích ngừa, chúng ta tốt hơn là nên làm theo Đan Mạch, Thụy Điển, và Iceland, nghĩa là dỡ bỏ tất cả các biện pháp hạn chế và cho phép virus lưu hành trong quá trình hoạt động bình thường của xã hội. 

Điều này hỗ trợ khả năng miễn dịch tự nhiên ngăn chặn các virus, nấm và vi khuẩn khác. Các lệnh bắt buộc chích vaccine thử nghiệm không thể cung cấp khả năng bảo vệ rộng rãi.

Việc tập trung vào chích ngừa theo các lệnh bắt buộc trực tiếp tạo ra mối bất hòa không thể biện minh một cách khoa học trong xã hội. Trên hết, với tình trạng thiếu nhân viên y tế, việc tiếp tục đi trên con đường tương tự là một lời mời chào cho một trận sóng thần [bệnh tật] kinh hoàng tiếp theo. Không chỉ từ COVID-19, mà còn từ các mầm bệnh khác cũng như sự gia tăng nhanh chóng bệnh ung thư, bệnh tim mạch, và trầm cảm.

Thật vậy, hệ thống miễn dịch cũng tham gia vào việc ngăn ngừa các bệnh kinh niên. Để ngăn ngừa những tác hại không đáng có cho người lớn và trẻ em, thông tin y tế công cộng về nguy cơ và lợi ích của vaccine cần phải trung thực và minh bạch. Bằng cách này, mọi người có thể đưa ra các quyết định được suy xét kỹ lưỡng về sức khỏe của chính mình và về cách góp sức vào để có một thế giới an toàn và lành mạnh hơn.

Chính phủ và các công ty bảo hiểm sẽ phục vụ tốt để ít nhất cung cấp cho trẻ em, người già, người nhận phúc lợi dễ bị tổn thương, và nhân viên y tế hướng dẫn rõ ràng hơn về tầm quan trọng cốt yếu của một hệ thống miễn dịch có khả năng phục hồi, không thỏa hiệp với các hạn chế và các lệnh bắt buộc gây nguy hiểm cho sức khỏe của chúng ta. 

Bài báo được đăng tải lần đầu từ Viện Brownstone

Thu Anh biên dịch

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn