LXIII: Gào chồng phủ

(khuyết danh) 

Dì nho trưởng gấm, cô ả phòng the; bến liễu thuyền tình, cắm sào đợi nước, lầu hồng mối chỉ, kén khách trao tơ. Đương lúc đào non, đủng-đỉnh họa chưa nở vội, tới khi mai rụng, kên-ca xuân đã qua đi: nào há phải hồng nhan bạc phận, vậy cho nên thân gái nhỡ thì 

Kêu rằng giời cao bao trượng, bề rộng mấy trùng ? Cũng thì má phấn, cũng bạn lưng ong, người sao đã có, tôi vẫn còn không ? Chống gối lên, năm hét bảy hò: ghen-ghét nhau chi nguyệt-lão ? Cúi mặt xuống, trăm than nghìn thở, phũ-phàng chi mấy hóa-công ?

Hỡi ơi, cái pháp long-đong, mối duyên bối-rối; năm canh luống ngẩn-ngơ lòng, chín khúc càng ngao-ngán nốt. Cũng biết cây cao nương bóng, chẳng qua muôn sự tại giời, nhưng mà măng mọc có thì, quá mất một ngày cũng tội. 

Luống những thu cuối sang đông, xuân qua lại hạ; dịp phách oanh quan, cung đàn bướm lạ; tưởng những lúc đèn treo ngọn lạnh, dặt-dìu canh cửi, khuây nỗi nhớ-nhung, còn những khi giảng dãi màu hoa, xấp-xỉ bướm ong sui lòng buồn bã.

Chẳng tu mà tĩnh, chẳng dỗi mà nhàn; trách chị em chưng không đợi, tiền bạc mẹ chưng vụng toan. Giăng khuyết, giăng lại tròn, má hồng nọ tròn chăng hay khuyết ? Hoa tàn hoa lại nở, xuân-xanh kia nở nữa hay tàn ?

Cũng mong ngôi Ngự đề thơ, bến Hà đua tiếng; khỏi điều nước chảy qua sân, may được mưa sa xuống giếng. Hội mừng rồng dấy, xum-vầy gối ấp chi đầu tay, đi mượn trâu cày, ngẩn-bặt chị em chi mỗi miệng.

Chẳng ngờ chị ở nhỡ thì, gặp anh nho xác; màn may cửa gió, bốn bề là nhà, kinh thánh truyện hiền, năm mây chưa bước. Nghìn dặm xui nên gặp-gỡ, hương duyên đun với lửa tình, trăm năm tính cuộc vuông tròn, trăm-nghĩa oán cùng quạt ước.

Đàn cầm-sắt lựa dây hòa hợp, chỉ hồng lá thắm, đôi lứa duyên ưa, đám công-danh giật giải khôi-nguyên, bia đá bảng vàng nghìn năm ghi tạc; tưởng bây giờ sướng kiếp thênh-thênh, bõ bấy lâu miệng gào san-sát.

(Theo Quốc-văn tùng-ký, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, A B 383, quyển hạ, tờ 23b-24b) (1).

LXIV Chung tình (2)

A.- Từ ghê non bồng diễn bạn tiên, 

Chạnh lòng khao-khát để riêng phiền 

Trình từ diệu-vợi người thân hữu, 

Thề có khi nào lặng chốc quên. 

B – Ngãi từ bén ngãi bấy lâu nay, 

Vàng sắt ghi lòng để nước mây. 

Chỉ núi người sao đà lăng đẩy. 

Thề sông kẻ hãy rắp thì đây.

Lửa hương những tưởng bề sum họp, 

Vàng đá nào ngờ nỗi đổi thay 

Khéo nhĩ lòng sao đen bạc nhỉ ?

Mà chi cho kẻo bên niềm tây.  

Nỡ lòng bỗng quyết riêng tây, 

Vậy nên cho phải dãi bày một phong. 

Chứng-minh đã có trên không, 

Mặc ai đen bạc vừng hồng xét-soi. 

C.- Thói quê nào xiết tấm lòng quê, 

Hồ hải muôn trông lượng chẳng nề. 

Nhắn cá trao nhàn e lắm nỗi, 

Gần lương chén ngọc thẹn nhiều bề. 

Chữ tình hai ngả chung khôn ước, 

Lòng khách ba thu vốn đã lề. 

Nghiêm thẳm ngại-ngùng nhời bẻ-bắt, 

Xét lỏng hoài niệm đấy mà suy. 

D.- Tự thuở cùng nhau chỉ nói sống, 

Nguyền rằng muôn kiếp tử sinh động. 

Những ngờ duyên-phận bề son thắm, 

Chẳng đáp ân-tình nỗi giấy mong. 

Nhớ nọ dễ gầy mai cốt-cách, 

Mong kia nên võ tuyết hình-dung

Mới hay tính nước đầy với thế, 

Thời đắp chăn đơn chịu lạnh-lùng. 

(Trích ở quyền Quốc-Âm thi ca tạp lục, sách viết bằng chữ nôm của trường Bác-cổ, số AB 296 )

LXV Trần Võ Quán 

Bài dẫn (bằng Hán-văn, dịch ra quốc-văn). 

Nước Việt khi mới dựng ra kinh-đô, làm Trấn võ quán ở cửa bắc thành nhà vua, để cho ngay phương-hướng mà trấn giữ nền nhà nước. Hình-thế có sông quanh khắp, có hồ soi tỏ. Cảnh-trí như hoa xuân hớn-hở, như giăng thu trong sáng. Bao-quát muôn vật sum-vầy, học tập trăm thần ủng hộ. Vòng quanh năm sắc mây xanh đỏ, đẹp-đẽ như tinh-huỳnh thất bảo. Rực-rực rỡ-rỡ, thực là một động thiên nhiên ở thế-gian. Ta thường quý cảnh đẹp, kính trông nêu cao, lòng tôn-kính, khó nói được rõ, vậy làm một bài thơ quốc âm để tán dương đức thịnh. 

Danh lừng tiên cô đã nên bầu. 

Bỡ-ngỡ huy-quang mọi mọi chầu. 

Cảnh sát nơi nơi đồ lăng-uyển, 

Cung tưởng ấy ấy áng vân-tiêu. 

Lá tuôn doành quế màu lai-láng, 

Gấm trải đường hoa khách dập-dìu. 

Cấu được anh-uy hằng thức dậy, 

Sửa công-đức cả biết bao nhiêu ?

(Trích ở quyền Ngự đề Thiên hòa doanh bách vịnh thi tập của Trịnh Căn, 1682-1709, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 544, tờ 11a 12 a)

LXVI Quyển sơn hình thắng

(thuộc Lí-nhân phủ) 

Xa chơi sông núi mảnh buồn, 

Quyển-sơn đối đáp ngàn năm chốn này. 

Ngửa trông phượng cất bình mây, 

Gần trông rồng ở giăng đầu ngắm gương. 

Thôn-lư gối núi trúc dăng. 

Tiều-phu đường trải non thang dáng lồng 

Suy bàn tìm ngọc gia công, 

Muốn đem nước sạch rửa lòng tham di

(Trích ở quyền Phong cảnh biệt chí, sách viết bằng chữ nôm ở trường Bác cổ, số AB 377, tờ 9 b).

LXVII Long đội thắng tích

(thuộc Duy-tiên huyện) 

Núi tầng cổ hóa thành cao, 

Vịn trèo cầu đá bước vào thiền-tuynh. 

Lí-triều bia thép rành-rành, 

Giặc nhà Hồ bỏ tàn-tành bấy nay. 

Đường đi người ít rêu đầy. 

Mưa xuân thấp ướt sớm ngày ngấn xanh. 

Lên cao liếc mắt chung-quanh, 

Muôn đời cây cỏ vẫn hình tốt tươi.

(Trích ở Phong cảnh biệt chí, tờ 10 a) (3)

( Còn nữa )

Ứng hòe  NGUYỄN VĂN TỐ biên tập

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Cụ Nguyễn Đông Châu đã chép bái phú “gào chồng” ra quốc-ngữ trong quyển Cổ xúy nguyên âm, trang 88 89. Bản của cụ khác bản nôm của Bác cổ ở những câu sau này: “Kêu rằng giời cao bao trượng” (Trời cao mấy trượng), “năm hét bảy hò” (năm gật bảy hò), “quá mất một ngày cũng tội” (quá mất một thì cũng tội), “cung đàn bướm lạ” (cung đàn dế tạ), “tưởng những lúc đèn treo ngọn hạnh” (tưởng lúc đèn khêu ngọn hạnh), “chẳng dỗi mà nhàn” (chẳng cuội mà nhàn),  “ngẩn bặt chị em chi môi mệng” (nín-bặt chị em chi môi miệng), “trăm-ngãi oán cùng quạt ước” (trâm nghĩa sắnh cùng quạt mớc), v. v.  

2) Những bài thơ (Chung-tình, v, v) In ra quốc-ngữ lần này là lần đầu. 

3) Nguyên-văn chữ nho như sau này.

Quyển sơn hình thắng

Thiều đệ giang sơn nhất phiền phạm, 

Quyển-sơn đõi-bạc ngạn chi nam. 

Dao khang phượng-thí vân bình trĩ, 

Cận hám giảo-cư nguyện kính hàm, 

Chẩm hiên thôn-lư thanh trúc hộ, 

Thê điên tiều-kinh tử hà giam. 

Nhàn lại khúc luận thâm châu sự 

Dục bả thanh lưu nhất tẩy tham

Long đội thắng tích 

Thiên nhận tằng man Cổ-hoa thành, 

Phan duyên thạch đắng bộ thiền tuynh 

Lí-triều quái-đàn bi không tại, 

Minh-khấu hung-tàn tự dĩ canh. 

Lộ thiểu nhân tung đài giáp lực, 

Sơn đa xuân vũ hiểu gian thành, 

Đăng cao nhỡn-giới vô cùng trước 

Vạn cổ mang mang theo thụ bình.