XCVI Một bài phú giáng bút (1)

Giời đất cao dày, con tạo vần xoay. Ơn vua nhờ thánh, sinh được hội này. Ai đều được nức lòng nức dạ, ai chẳng mong mở mặt mở mày. Hậu giả hậu lai, ở hiền lại gặp lành, mới biết tre già măng mọc, ác giả ác báo, ăn mặn thì khát nước, khác nào cây yếu gió lay. Trách những người thịt bắp vai u, đường lui tới, nhẽ thiệt hơn, ở chẳng trông sau trông trước. Nào những kẻ mắt to tai lớn, chí tang bồng duyên hồ-thỉ, đi cho biết đó biết đây. Đương cơn bình-địa ba-đào, có chí làm quan, có gan làm giàu, sao chẳng khoe khôn cậy khéo ? Gặp lúc cơn đen vận túng, có mồm thì đắp, có nắp thì đạy, cũng nên giả dại làm ngay. Của Bụt mất một đôi mươi, xin chớ ăn chay nói dối; nam-vô một bồ lấy bốn, thà rằng ăn mặn nói ngay! Ngắn cánh với chẳng đến giời, trí thiển tài ngu, vòng danh lợi tranh đua thêm ngàn nỗi, ra tay gạo xay ra cám, văn hay vũ mạnh, buổi kinh-luân vùng- vẫy cũng ghê thay !

Bò của chú, chú phải lo, con vua vua dấu, con chúa chúa yêu : tình ân ái chẳng nhầm chẳng lỗi. Đèn nhà ai, nhà ấy rạng; của anh anh mang, của nàng nàng xách, nợ phong lưu nói giả nói vay. Chị em  ơi ! lấy chồng cho đáng tấm chồng, cho bõ lúc nghiền phấn-sáp, lúc ướp hương-hoa, hai chữ cương-thường sao cho xứng đáng Quân tệ nhỉ: lấy vợ chỉ biết mặt vợ, chẳng nhớ ai bế anh-nhỉ, ai bồng xích-tử, ba năm trứng nước bao quản đắng cay ! Có cha có mẹ ght đàn có giây, đạo mẹ đức cha, bề rộng giời cho phải quí; thuận vợ thuận chồng, bể đông cũng cạn, đạo chồng nghĩa vợ, nguồn ân bể ái không tày. Chị ngã đã có em nâng, máu chảy ruột đau, lá rách lá lành đùm bọc; cha sinh không tày mẹ dưỡng, áo dày cơm nặng, công nuôi công dậy đêm ngày. Một cây chẳng nên rừng, đông có mây, tây có sao, đông đúc anh em mới quí; mười voi không bát sáo, kẻ nói thánh, người nói tướng, chơ nghe miệng thế thêm rầy. Lúc vui vắt chéo chú chén anh, rước voi về rầy mồ, ai chết mặc ai, ra sức nay bàn mai cuộc; khi cấp nạn chân le chân vịt, huýt chó vào bụi rậm, chú chết mặc chú. tìm đường cao chạy xa bay! Người Hà-nội, khách Sơn-tây, những tiếng thị phi cũng lắm kẻ khôn người dại: gái giang-hồ, giai tứ-chiếng, mặc ai ngang dọc, tha hồ kẻ bắc người tây.

Trẻ chẳng tha già chẳng thương, ở chẳng phòng xa, vuốt mặt không nể mũi; cha cũng kinh, mẹ cũng vái, đi đâu mà thiệt, sẩy vai xuống cánh tay. Mưa bao giờ mát bấy giờ, kia những lúc rét cắt ruột, lúc đói nhăn răng, vận đến nhớ đâu khi rách-rưới: gió chiều nào che chiều ấy, hãy cho nó qua thời đói, nó khỏi thời nản, thế nào cũng được bữa no say. Báng đầu thằng trọc, không nể đầu ông sư; cứng cổ cứng đầu, ai xá những phường ngu-dại; vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, sấp mày sấp mặt, vẫn nghè nhời nói xưa nay, Giặc bên Ngô, cô bạn chồng, liệu gió phất cờ, đường cư-xử sao cho trọn-vẹn; cháu bà nội, tội bà ngoại, vị cây dây quấn, nhẽ phải chăng nào dám đổi thay. Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời; đói cho sạch, rách cho thơm cứ giữ công bằng cho phải đạo; sống người một nết, chết người một tật; mẹ sinh con, giới sinh tính, há rằng số phận có ưa may ? Thiếu gì kẻ dở người hay, ai là người dạy bảo, ai đem đạo mở mang, có nhẽ cha chung ai khóc ? Nhắn-nhủ giai lành gái tốt, phải nên đề vào lòng, phải nên chôn vào dạ chớ hề mẹ hắt khen hay

(Theo quyển Việt túy tham-khảo của Đằng-cháu cư-sĩ Nguyễn-Thiệu tập-biên, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 386, tờ 19a – 21a) .

XCVII Động Cắc cớ 

(của Trịnh-Căn 1682-4709) (2)

Bài dẫn bằng chữ Hán dịch ra quốc-ngữ Rộng xem  sườn núi mập-mô, giờ nhân sáng sủa, bao quát rất nhiều gió tốt. Ta từng cầm quyền lan-nhị, trang-sức dùng xạ châu, đã khắp nơi tán-dương đề-vịnh, sai khắc ở lưng núi này. Vừa gặp buổi giời gây mở thịnh, phân tết xuân lại lên xem cảnh tốt, lòng vui thẳng bước, hết thảy xem chơi, chỉ thấy khe núi quanh-co, rõ-ràng đường tắt bằng-phẳng, thỉnh-thoảng điểm màu xanh biếc, y nhiên có vẻ huyền-chân, thực là trong cảnh sáng tỏ càng thêm thần-kỳ, lòng mến cảnh chưa thôi, vần thơ đã nẩy, bèn sai khắc vào đá này.

Lạ thay hồng-tạo khéo đào thành, 

Danh ấy đong đeo xứng sở danh 

Ngọc trửu hương nhuần, mùi bát-ngát, 

Quân-giai nguyệt tỏ, bóng đành rành. 

Xanh thu A-thụ khoe xuân đượm,

Tiếng nhắt huân kinh diễn lạo lanh. 

Trần giới hây hây chàng điểm bợn

Chốn sao thanh-tĩnh nữ thuyền tuynh. 

Trích ở quyển Ngự-đề thiên hòa-doanh bách vịnh thi-tập sách viết bằng chữ nho và chữ nôm của Trường Bác-cổ số AB 544 tờ 18a-18b )

(Còn nữa) 

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

1) Quyển Việt-tùy tham-khảo (bản nôm đề là Bài phu giáng bút của bà tiết-phu làng Hoàng-mai ngày xưa. Quyển Văn-đàn bảo-giám (bản quốc ngữ, quyển thứ hai, in lần thứ hai, trang 58) đề là khuyên thể nhân. “Tương truyền bài này là bài giáng  bút của bà Chúa Liễu đã lâu lắm”. Bản quốc ngữ của Văn đàn bảo giám  thiếu hẳn từ câu “ lúc vui-vầy chén chú chén anh đến câu tha hồ kẻ bắc người tây”. Còn những chữ khác nhau, cũng nhiều lắm, tính ra có tới ba-mươi chữ…

2) Thơ Thịnh Căn chưa ai in ra quốc ngữ

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn