XL: Chung tình (1) 

Bài dẫn (bằng Hán-văn). – Cứ theo nhẽ thường, giời có âm dương, đủ để sinh hóa muôn vật. Người ta có vợ chồng, mới trở nên gia-đạo. Ngày nay nghe tiếng, thực là dịp may-mắn, nghĩ đến nghĩa cũ tình xưa, gặp lúc tiền không túi lạnh, làm bài thơ quốc âm đến mừng.

Dây tơ bỗng khéo rắc thay là, 

Mừng được duyên hải khách Tố-Nga. 

Đệm thúy vui-vầy êm gối ngọc, 

Chăn loan rộng-rãi kín giường ngà. 

Lần lần nguyệt sang in vừng nguyệt, 

Rờ-rỡ hoa đua nở cánh hoa. 

Đầm ấm khi xuân đam nhị ngọc,

Nên thay lân-chỉ tiếng xoang ca. 

(Trích dịch ở Quốc-âm thi-ca tạp-lục, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 296).

XLI: Tương tự khúc (2) 

Nỗi xa-xôi biết tỏ cùng ai ? 

Thay lòng mượn bút tay bầy, 

Chẳng thương xin chở nỡ hoài làm chi. 

Càng nghĩ nỗi biệt-li cách-trở, 

Lò tưởng càng chất-chứa não nùng 

Dám phiền lượng quảng bao dung, 

Đoái thương chút nghĩa tương phùng bấy lâu. 

Có nhẽ đâu mua yêu rước dấu ? 

Lọt diễn bởi duyền giải-cấu duyên.

Chỉn với diệu với Tần-quan, 

Tiếng gà họ Mạnh ai toan giúp cùng ? 

Vốn thủy-chung vẹn gồm một tiết, 

Nghĩa tương-thân càng thiết thiết thay ! 

Cân đâu xiết nỗi chua cay, 

Tấc niềm ai kẻ thấu hay đấy là? 

Dặm tuy ra mấy trùng non nước. 

Lòng dẫu gần gang tấc mới cam, 

Một giời hai sở bắc nam, 

Bao giờ gặp hội Cầu-lam thế nào. 

Có nhẽ nào ép yêu nài dấu ? 

Kiếp thì duyên, tin thấu đấy cho.

Nguồn cơn ít kẻ nhỏ to, 

Ruột tầm bối-rối như bò đòi phen.

Bạn cùng đèn năm canh chong chuốt, 

Nỗi viễn hoài khát vọng kể nhiều. 

Cắp sương đạp tuyết cũng liều, 

Chỉn lo nghiêm-cẩn khôn chiều tiện thông, 

Mượn cánh hồng gửi nhời trình lạc, 

Có miễn tôi chút mẩy nào chăng? 

Hay vui cảnh vật gió giăng ? 

Đã đành lòng nhỉ, dám răng làm sao. 

Chốn động-đào hạnh-biên lan sạ, 

Luống phòng văn tắm-tã nhớ trông 

Nhời thông lòng chỉn khôn thông, 

Sinh đồng xin lại tâm đồng mới cam. 

Duyên cầu ngủ Dầu hội long vân. 

Thay lòng phải dặm mấy cần,

Ngĩa nay ước hẹn Chu, Trần, kim-lan. 

(Trích ở Quốc-đa thi-ca tạp lục).

XLII: Vịnh bia văn miếu 

(Thơ của Trịnh-Căn, 1682-1709)  

Bài dẫn (bằng Hán-văn). – Thánh-nhân đạo nhón đức rộng, khắc ở bia to, dùng để lâu đài, Ngày khánh thành ta lại đến. xem-xét quanh khắp, thấy thể chế ngay-ngắn, văn-chất hồn-toàn, trân-trọng nhường nào, ngâm thành một bài thơ quốc-âm. 

Đạo thống tường xem nhất nhật minh, 

Vậy nên hiệu lập trước trung đình. 

Tôn-nghiêm vốn có bề phương chính, 

Trân-trọng nào sai mực thản bình. 

Rộng chứa căn-chương hằng rõ rỡ,

Tỏ-bầy đức-giáo hãy rành-rành, 

Vững bền sáo-sáo đồng thiên địa, 

Thấy thấy ai là chẳng ngưỡng thành. 

Trích ở Ngư-đề Thiên-hòa doanh bách vịnh thi tập, sách viết bằng chữ nôm của Bác-cổ, số AB 544, tờ 9a).

XLIII: Văn-tế Huy quận-công 

Than ôi ! đạo hiếu-trung là phận, miễn dự gian thần-tử thường-kinh, cơ họa-phúc bởi giời, chi khả luận anh-hùng thành-bại. 

Nhớ ông xưa, nghiệp nối cơ cầu, nhà truyền huân-phhiệt; nghề thao-lược gác linh (3) đã sẵn, nối. Chu-đình nọ có Á Phu, việc phiên-hàn bể học lại khơi, dòng Tào-thị nổi danh Tử-Vĩ.

Chí hổ-thỉ rắp lăm le tứ sạ, nghiệp biền-thân toan kinh-lịch đôi đường; cầu Tần mây thẳm chín lần, ra tay sạ tước, cửa Vũ sống đào ba đợt, rõ mặt đăng long

Một tiết trang-cần, hai triều cẩn-khác; trong cấm-vệ việc Hổ-Bôn chần-chực, Định công càng nức tiếng Khương-Nha, ngoài biên-thành loài ô-thuớc tiễu-trừ, Thái-sử lại nổi danh Tiết-thị.

Chữ trung-hiếu hằng ghi một tiết, đuốc cao-thông soi thấu tấm lòng; si Hoan-châu này việc tuần-tuyên, nhiều phen chịu tiếng nhăng thanh, tiết đại-thụ thấu trong Hán-điện, mặt nam phương cầm quyền chế-ngự thét chốn Động-đình.

Trung-trinh bằng giữ đạo khôn lam, quyền-chú lại dự cộng sư tục; trong đài-các dự ngôi lục phủ, cóng-bằng cầm thẳng cân Chu, ngoài biên-thành lo việc bốn phương, phi-ngự giữ bền khóa Tống; đạo quân-thần phải duyên cá nước, đường công danh gặp hội rồng mây. 

Thanh-cung vong-mệnh bật thừa, ký-thác bởi lòng trên khôn xiết, tử-các chịu nhời phụ-tá, tựu-tương nhưng dạ bé nọ đam; Vừng thái-dương đành soi ruột

lão-hoa, dòng thiếu-hải ắt rõ ngồi chấn-sưởng.

Xe yến-giá bỗng đau lòng Cơ Đán, đền Chu áo cổn thuở triều trưa, quyền thác cô đành nặng sức A-hành, xe Bạc núi Đồng

cơn buổi sớm; lòng ưu ái những chăm xem quốc-sự, đất nguy-nghi nên mặc tiếng nhân-ngôn. 

Trên chín lần bão dạng ấu-xung, đan tâm ra sức khuông phù, nghị Thành-vương cũng có ngày lệnh đức, dưới trăm họ lưu ngôn đố-hoặc, xích-tích toan đường xa lánh, song Thiệu công khôn tìm kẻ thay quyền; lây một mình hệ quốc An-nguy, dầu – trăm tiếng mặc ai trầm-tố.

Ngôi bảo-tọa mới lòe gương tử-cực, phủ Tần-phiên phút dấy dị-mưu, bút hoa-hàn chưa ráo-mực long cao, cửa huyền-võ sẩy gây đại-biến; đồi-ba vững ngang dòng cột đá, long đông bền một tiết thông già. 

Trần-kiều mây rợp lá cờ, lòng Hàn-tử khăng-khăng quốc-chủ, Thích-lí gió lay con mác, nghĩa Tử-Do khẩn-khẩn Vệ-quân; bảy thụ di ai nấy đồng tâm, một cô khổn cam bề tựu nghĩa.

Chữ đồng-ký hãy rành-rành trước mặt, trông vào thêm hổ kẻ đỉnh-chung, thời di-ngôn còn văng-vẳng bên tai, nghe biết luống then người lương-đống; khi thất thì phải chăng nào biện, lúc sa có thuận-nghịch khôn lường.

Ngậm-ngùi thay một cửa hiếu trung, cứu-việc nước dân nhà chi dám tiếc, đau-đớn nhỉ ! hai đời tiết-nghĩa, bả ơn trên cho mệnh bạc phải liều; xét lòng cậy có tiên quân, vắng mặt nào khuây ấu-chúa. 

Mặc kẻ vẽ rồng vẽ rắn, đã đành cổn-phủ bút xuân-thu, dù ai rằng ngựa rằng trâu, cậy có nghiên-suy vừng nhật-nguyệt.  (Trích ở quyển Lệ-ngữ văn tập sách viết bằng chữ nôm của | Trường Bác-cổ, số AB 166, tờ  3a-5a).

(Còn nữa)

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Những bài đăng kỳ này chưa ai in ra quốc-ngữ.

2) Bản sao của Bác-cổ đề là Tượng-ức khúc. Chúng tôi đề theo bản của một người bạn. Có một vài chỗ sách Bác-cổ viết thiếu hay viết sai, chúng tôi phải theo bản riêng, nhưng bao giờ cũng dựa vào sách Bác-cổ để cho ai nấy có chữ gì nghi ngờ có thể đến mà xem xét lại.

3) Có bản viết là gác chuông.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn