XXXVII: Chung-tình (1)

A – Lân-la từ trải khắp miền này,

Đất sỏi ai ngờ có chạch đây ?

Dệt gấm vẽ rồng ghê-gớm nhỉ,

Phun châu nhả ngọc lạ lùng đời !

Cải-kim ước hẹn duyên nghìn kiếp,

Giăng-gió mang bao nghĩa một ngày.

Ngọc tốt vàng dòng hai giá ấy,

Gớm cho thơm để thế gian hay !

B,1 – Vâng thấy vân-tiên trọng hậu thay !

Nghĩa này muôn kiếp gió khôn lay !

Bỡn-bờ quen quen thói dầy khuây bỗng.

Chỉnh-túc nghiêm-từ chửa dễ vơi,

Ấp ngọc ôm vàng chi dám tưởng ?

Gần hương bén xạ hoạ là may !

Phong tống Đằng-vương nhờ trận gió.

Dây dun hồng-diệp tới cong tay,

B,2 – Lá hồng duyên thắm hoạ may,

Ắt là khuôn tạo giúp tay thợ giới.

Nhẽ đâu dám tiện nhiều nhời,

Gọi rằng thơ trước trình-bầy vớt sau .

Nôm na vẽ dấu lấy màu,

Đã lòng ký-vãng, lại hòng tương-lai !

B,3 – Từ thấy tin ong nghĩ ngàn đời !

Ngán rằng sao bỗng dám thày-lay !

E vì nghiêm-mật không cho thấu,

Thẹn nỗi lần-khân chợt nói ngây !

Lòng nọ thể kia ấy thực,

Duyên kia chợt thấy rằng may !

Chẳng hay tố định bao giờ tá ?

Không bỗng sao nên nỗi nước này ?

B,4 –  Quan nhậm châu khách Hoan-châu,

Cầm-bằng mà cũng chẳng nên rầu.

Nay phảng-phất thông tin sứ,

Vò thấu chung-tình nỗi nhỏ to.

B,5 – Chung-tình thấu nỗi nhỏ to.

Nhẽ mà nên nghĩa Trần Chu một nhà,

Quan san nào ngại-ngùng xa

Song duyên cậy chớ giăng già rủi dun.

(Trích ở Quốc âm thi-ca tạp-lục. sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-Cổ, số A B 296)

XXXVIII: Văn miếu

Bài dẫn, bằng chữ nho dịch ra quốc văn. Ta nối trị nền vương, thân coi việc nước, kính giúp nhà vua, vững yên bờ cõi. Đem văn-giáo để phấn-sức cuộc thái-bình, kén nhân tài để cổ vũ việc trị nước. Bởi nhân-nghĩa lễ-nhạc, phải có tôn-sư, nên ta xem xét phép thịnh, có đến nhà Thái-học, làm lễ bái yết, rất là kính cẩn. Sáng sủa như mặt giăng mặt giời, mênh-mông như vực như suối, lòng sốt-sắng hứng-khởi, nẩy tứ làm thơ, như mưa giọt ở ao vàng, mây nổi ở trên không. Ngâm thành hai bài thất ngôn Đường-luật và hai bài thơ quốc âm, để tỏ sự đạo đức công-nghiệp của thánh-nhân. Tuy thế cũng chưa dễ thấy cái bờ-bến ở bể khơi, song cũng đủ rõ cái ý rất sùng nho trọng đạo, lưu truyền trên mặt bia đá.

1 – Xem thấy nguy-nga chỉn khác vời,

Kính thành khẩn-khẩn dám thường chơi (2)

Qui-mô vững đặt cao nền đạo,

Lễ nhạc dùng là rộng phép người.

Đức ví giang hà nhuần chốn-chốn,

Công tầy nhật nguyệt sáng đời-đời.

Dốc sinh cỏ đứng làm tiêu-chuẩn,

Ý hậu tư dân tượng ở giời.

2  – Tôn-trọng khôn so biết mấy vời,

Lẫm nhiên nhường ấy há rằng chơi (3) ?

Vang-vang đường-bệ nghiêm ngôi thánh,

Vòi-vọi uy-nghiêm hiển đức người.

Minh phị-ẩn hằng yên tính-vật,

Trí trung-hoà đã đáng danh đời.

Đành hay lấy đấy gìn tôn-pháp,

Sự sự thi-vi thuận nhẽ giời.

(Trích ở Ngự-đề Thiên-hoà-doanh bách vịnh thi-tập của Trịnh-Căn, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-Cổ, số A B 544, tờ 6b-8b)

XXXIX: Ngã Ba Hạc

Xinh thay ngã ba Hạc, lạ thay ngã ba Hạc ! Dòng thấm một dòng, ngả chia đôi ngả. Ngóc-ngách khôn đo rộng hẹp, doành bích lợn doành đào ; lênh-láng dễ biết nông sâu, nước lờ pha nước bạc.

Nẻo xưa vũ-trụ mở-mang, kiền khôn xếch xác ; chân-tình chứa dẫy hải-hà, tú-khí còn ngưng quang nhạc. Vua Bàn-cổ mở lò tạp hóa, hồng mông đà lẽo đẽo thêm xuân ; họ Hữu-Ngu khói mạch sơn xuyên, cương-giới rành-rành như tạc. 

Vậy có dải đất đoài phương, cõi trời Nam-quốc. Trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ ; dưới ngấn nước nước xuôi tuồn-tuột. Ba góc bờ tre văng-vắng, huyệt linh-qui chênh hẻm đá gồng-ghềnh ; một chòm bãi cỏ phơi phơi, hang anh vũ thấu lòng sông huếch-hoác. Dưới thì tiêu-sái mọi bè, thanh tao nhiều cuộc. Rủ dây dù ông lã mấy cần, trần-trã mặc đứa đồng ngâm nước; bè khách thương-hạ bến, tượng chân quì gối lặc cầy sâu ; thuyền ngư phủ trôi dòng, dang nách khom lưng chèo phơi tuyết.

Trên thì một vẻ một màu, mỗi chiều một khác. Sương gieo ngọn cỏ ngọc đầy đầy, đá dãi hơi sương vàng xua-xủa. Dùi điểm thùng-thùng trống gọi, điểm tuần-ti dồn dã khách vào thưa, chầy đấm văng-vẳng chuông nghe, nhà Phật-tự lao xao người đến họp.

Càng quí nữa cảnh sắc nhẫn nay, phong quang gồm trước. Địa-đồ tự mở chốn doanh-cung, Thiên-hiểm dễ khoe bề oanh-thạc. Trôi trôi dài hơi cốc lặn, mênh mang vây nước ao thành ; vênh-vênh thẳng cánh cò bay, sẵn nước doành ngân bến Bác.

Nào hiềm chi cảnh chấn tiêu tương, đồ tranh thuỷ mặc. Nguồn Tào kia cũng nguồn Tào, nước Nhược nọ cũng nước Nhược ; ngày tháng thoi đưa thấm-thoắt, khách câu giăng ngồi đợi nhiều phen ; xưa nay chiều dẫy lăm-tăm, cảnh chỉ gió buồm lồng mấy cách.

Nay mừng vận mở tam đương, tộ yên chín vạc. Trên dẫu rằng vén tay nhà Tống, gia sức anh-quyền ; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu, xướng ca canh-tác.

Dầy nhân qua miền Tam-đái, tắt nẻo sông Lô, thấy ngã ba Hạc xinh thay, làm ra một phú, dù hay dở thế nào, xin chớ bới lông tìm vết (4). Ai nghĩ lại mà xem, cũng không kể sẵn trần-gian khoái lạc.

(Trích ở Ca điệu lược ký, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-Cổ, số A B 456, tờ 71a-72b)

(Còn nữa)

Ứng Hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Những bài đăng ở số này chưa hề in ra quốc-ngữ bao giờ . Trên bài Chung tình có mấy câu dẫn bằng chữ nho, dịch đại-khái như thế này : “Đem sắc vàng đi làm quan ở châu xa. Vợ cả ở kinh. Đi đường không có nội-trợ. Nay gặp một người tử-tế, tình-nghĩa giao-du. Mặt giăng lặn trước của mành, gió thổi ngoài màn, ngồi làm một bài thơ để cùng thương nhớ.” Bài thơ ấy chúng tôi đánh dấu chữ A. Còn những bài chữ B là của người đàn bà. Trên không có nhan-đề.

 2) Có bản viết là : “Kính thành khẩn khẩn dám lung chơi”. “Lẫm nhiên thường ấy há ngu chơi”

 3) Bản sao của trường Bác-cổ chép là : “Gọi là một phú, dù hay dở khôn dại, xin chớ bới lông tìm vết” ; chúng tôi dịch theo bản nôm của một người bạn, chưa chắc đã đúng nhưng nghe trôi hơn.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn