Hôm ấy là mồng 3 tết. Chúng tôi đáp xe hơi từ huyện lỵ Kim-bảng về xã Định-xá, cách huyện độ hơn hai cây số. Xe đi được một lúc thì dừng lại cạnh con đường đất hẹp, một bên cỏ bụi cây um-tùm, một bên là thung lũng hơi sâu, cỏ gianh mọc rậm rạp.

Chúng tôi theo nhau đi hàng chữ nhất qua hết chỗ đường đất đến một bãi cỏ phẳng-phiu, trên in một vệt chân đi dài và nhẵn. Mùi lá cây mục đưa lên khiến chúng tôi có cái cảm-giác như đường vào một căn nhà ẩm thấp bỏ hoang đã lâu. Trên đầu, mấy con sáo non bay truyền làm rung động những cành tơ mới nảy lộc; bên mình, từng đàn chim sân mớm mồi cho nhau, ríu-rít trong bụi duối, khóm tre. 

Qua hết khu rừng nhỏ đến chỗ rẽ thấy một chiếc tam-quan xây trên bực đá cao với ba chữ Bảo sơn-tự nét mực chưa nhòa. Đứng ở tam-quan trong ra, chúng tôi được ngắm một bức tranh sơn thủy mà Tạo-vật đã khéo trưng bày: trước mặt, giòng sông Đáy lặng lờ trôi; vài cây đa cổ thụ mọc xát bờ vươn cành như muốn soi bóng xuống nước; bên kia sông giẫy núi, vách thẳng thành vại, sừng sững tựa bức bình phong. 

Thấy cửa tam-quan đóng, chúng tôi rủ nhau theo cổng ngách bên tay mặt vào chùa. Đi hết cái sân đất rộng, chạy dài có hai dãy hành-lang lợp ngói tới một nơi bái-đường kiến-trúc theo lối kim, nền gạch hoa bóng lộn. Không trách người Âu-Mỹ chê người mình chưa biết tồn cổ: một nơi thắng cảnh cũ kỹ như chốn này mà dùng gạch hoa lòe loẹt để lát thì thực lố lăng quá sức.

Liền với bái-đường là nơi tam bảo thờ Phật; từ sự xếp đặt cho đến đồ tự-khi hết thảy đều giống như ở các chùa khác. Phía trong tam-bảo là nội-điện làm lối chuôi vồ. Bước trên mấy bậc, qua lần cửa sơn sơn vẽ rồng vào đến một gian hẹp trông lên bệ gạch cao giáp vách ba pho tượng Thế-tôn tĩnh tọa nơi tòa sen với nụ cười bất diệt. Giữa gian đặt một cỗ xong-loan thếp vàng, trạm trổ rất tinh-xảo trong đề chiếc ngai bằng khúc gỗ lũa đen như mun. Trên ngai có pho tượng ngồi, xiêm áo đường bệ, mũ vàng óng-ánh, chính là tượng bà Đanh một vị mẫu nghi đã từng “hộ quốc an-dân” xưa nay vẫn có tiếng anh linh mà dân vùng này rất sùng-kính.

Xem hết trong chùa, chúng tôi rủ nhau ra coi chiếc khánh đá trắng ở khu vườn bên tay tả. Chiếc khánh này tương truyền rất cố, dài hơn một thước tây, rộng chừng 60, 70 phân treo giữa hai trụ đá trên một bệ gạch cao độ 40 phâu; tôi lấy thanh sắt dùng làm giùi gõ vào khánh nghe tiếng kêu như tiếng chuông đồng. Cứ như những người đây nói, lúc đêm thanh vắng tiếng khánh đưa rất xa, tận trong xóm cũng văng vẳng nghe thấy. Quanh ra sau chùa, về phía tay mặt, thấy nhà tổ và các tăng-phòng.cũng văng vẳng nghe thấy. Quanh ra sau chùa, về phía tay mặt, thấy nhà tô và các tặng-phòng.

Chúng tôi vừa toàn ra về thì bỗng nghe tiếng người nói ồn ào xen lẫn tiếng chuông trống nhịp nhàng. Tôi rất ngạc-nhiên vì thường thấy nói nơi này vắng vẻ mà sao hôm nay đông đúc quá thể: trẻ già đủ hạng ra vào tấp nập, lại thêm ngoài sân mấy ông quan-viên mũ áo chỉnh tề đang hành lễ trước chiếc hương án đặt chênh chếch về phía tam-quan. 

Thầy lý đương thấy chúng tôi là khách lạ, vả có người nhà quan sở-tại hướng dẫn nên tiếp đón một cách niềm nở, và – như rõ cái điều chúng tôi muốn biết – thầy cho hay rằng hôm nay là ngày lễ khai-tự và động-thổ; dân xã Đinh-xá, theo tục làng đều phải đủ mặt tại chùa, trước lễ thánh sau họp việc làng. Còn như sự dân phải bảo nhau đi đông cũng là có cớ, vì nơi này vốn hẻo lánh, cọp hay qua lại quấy nhiễu, quanh năm rất ít khách thập phương đối lễ nên mới có câu (vắng như chùa, bà Đanh) là thế. Ngày nay đã khá chữ xưa kia đường lối khó đi, mỗi lần có việc tế lễ ở chùa dân vẫn phải cắt tuần tráng họp thành đội “tiên phong”, kẻ tay thước, gậy gộc, người thanh la trống cái, vừa đi vừa khua vào các bụi rậm và làm rầm rĩ rồi mọi người mới dám theo sau.

Lúc ấy, vị sư bà trụ trì ở đây cũng nói xen vào: “Tối hôm 30 gần lúc giao thừa, cọp về bắt mất con chó của nhà chùa, may mọi người còn thức, không thì đến mất cả lợn.” 

Như muốn để dân làng khỏi phí thì giờ, chúng tôi cáo từ ra về với lời hứa hẹn có lần lại đến vãng cảnh. Lúc đi qua mấy bụi rậm, gió xuân thổi nhè nhẹ, mưa phùn bay lấm tấm, cành lá xào xạc thì tựa hồ như có cọp nấp sẵn đâu đây, thấy động muốn chảy ra vồ. Khi ấy không ai bảo ai, chúng tôi đều bước rào cẳng; một lúc ra đến đường cái, quay lại trong thì cả tòa cô miếu đã khuất sau rừng cây, vàng vẳng chỉ nghe thấy tiếng chuông ngân nga trầm bổng như muốn thức tỉnh chúng sinh đương chìm đắm trong bể khổ. Ngồi trên xe nhân ngẫu hứng làm bài thơ này: 

Mấy tòa cổ-miếu giữa rừng xanh, 

Sơn thủy xem ra cũng hữu tình: 

Vách núi chênh-vênh bày trước mắt. 

Giòng sông uốn khúc lượn xung-quanh. 

Hồi chuông cửa khổ vang khi sớm, 

Tiếng khánh an-dân vẳng lúc thanh, 

Cọp giữ thường chầu, làm vắng vẻ 

Một nợi thăng tích chốn Nam thành. 

VÂN-THẠCH

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn