Để hình dung một đất nước Nhật Bản với bề dày lịch sử và truyền thống, năm 2019 Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton đã tổ chức triển lãm “Thắng cảnh trong tranh Nhật Bản”. Đây là cơ hội “kết nối với một trong những truyền thống quan trọng nhất trong lịch sử nghệ thuật Nhật Bản”, giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton, James Steward cho biết trên trang web TownTopics.

Qua các sách minh họa, tranh in mộc bản, tranh vẽ, và ảnh chụp, gần 40 tác phẩm nghệ thuật từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 21 khám phá những địa điểm Nhật Bản dù trong tưởng tượng hay trên thực tế theo những cách khác nhau.

“Cầu Treo tại biên giới tỉnh Hida và Etchu”, khoảng năm 1834, thời Edo (1615–1868), Katsushika Hokusai 葛飾北斎. Tranh in mộc bản (kích thước in theo oban yoko-e), mực và màu trên giấy, 26×39 cm. Quỹ Laura P. Hall Memorial Fund và Mary Trumbull Adams Art Fund. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Triển lãm nghệ thuật truyền thống về các danh lam thắng cảnh ở Nhật Bản được chia thành ba chủ đề chính: “Địa danh tưởng tượng”, “Địa danh nổi tiếng” (meisho 名 所), và “Địa danh linh thiêng” (reijō 霊 場). 

Người phụ trách cuộc triển lãm, Andrew M. Watsky, giáo sư nghệ thuật và khảo cổ học Nhật Bản tại Princeton, mô tả những khoảnh khắc khi thấy những bức tranh này ở trước mặt: “Giống như mọi khi tôi tuyển chọn các cuộc triển lãm, đó là một sự ngạc nhiên tuyệt vời khi nhìn tận mắt các tác phẩm, lớn và nhỏ. Ví dụ, mỗi khi tôi bước vào một phòng triển lãm tranh, thì có ngay ấn tượng khi nhìn những màn hình khổng lồ với bề rộng bao trùm cả bức tranh, thể hiện từng nét vẽ mượt mà và sống động. Qua nhiều lần như thế, tôi lại càng cảm thấy hồi hộp khi được nhìn thấy trực tiếp tác phẩm nghệ thuật,” anh nói trong một email.

Địa danh tưởng tượng trong nghệ thuật Nhật Bản

Không có nhiều các tác phẩm nghệ thuật Nhật Bản được tạo ra từ đời thực, mà hầu hết đến từ trí tưởng tượng của các nghệ sĩ. Những tưởng tượng này có thể được truyền cảm hứng từ các loại hình nghệ thuật khác hoặc một tác phẩm hư cấu khác, nhưng đa phần là chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Trung Hoa mà người Nhật rất xem trọng.

Ông Caitlin Karyadi, người đồng phụ trách triển lãm và là một người theo học chương trình Tiến sĩ tại Đại học Princeton, cho biết trên trang web của Bảo tàng Nghệ thuật Princeton rằng người Nhật xem Trung Hoa là nguồn cội của nền văn hóa chính thống. Vì không thể đến thăm Trung Hoa, “Các nghệ sĩ Nhật Bản đã ấp ủ hàng thế kỷ luyện vẽ và tạo ra cách diễn dịch của riêng họ về một Trung Hoa trong trí tưởng tượng.”

“Tập tranh mây trắng và mây màu”, thời Meiji (1868–1912), Fukuda Kodojin. Hai tập tranh, mực và màu trên lụa, 32×40 cm. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Hội họa truyền thống Nhật Bản về dòng tranh “sơn thủy”, ngày nay thường gọi là tranh “phong cảnh”, vay mượn các họa tiết và thủ pháp từ tranh sơn thủy Trung Hoa. Tranh sơn thủy Nhật Bản không chỉ giới hạn ở việc vẽ núi non sông nước mà bao gồm cả cây cối, đá, hoa, nhà cửa và con người.

Bức tranh của Tachihara Kyosho (1785–1840) cho thấy hình ảnh hiếm hoi một họa sĩ Nhật Bản đang làm việc: Người họa sĩ ở trong nhà đang vẽ tranh theo trí nhớ; có lẽ ông đang vẽ một nơi đã từng ghé thăm hoặc ông đang vẽ một bức tranh mà ông đã nghiên cứu hoặc từng vẽ trước đây, ông Karyadi cho biết.

“Họa”, 1806, thời Edo (1615–1868), Tachihara Kyosho. Tranh cuộn, mực trên giấy, 29x33cm. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Bàn tay, tâm trí, và bút pháp

Bút pháp của một họa sĩ đóng vai trò rất quan trọng. Những bức tranh vẽ bằng mực đen được đánh giá cao, phần lớn là vì có thể bộc lộ rõ bút pháp của người vẽ. Trái lại, cũng bức vẽ đó mà được tô nhiều màu sắc, được vẽ bằng các màu khoáng mờ, dày đặc thì ít nhiều che đi bút pháp của họa sĩ.

“Hồ sen Kannon,” thời Edo (1615–1868), Hakuin Ekaku 白 隠 慧 鶴. Tranh cuộn, mực và màu trên giấy, 44 x 14 cm. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Cọ vẽ được làm từ lông thú, đủ bền chắc và uyển chuyển để thể hiện những chuyển động truyền thần từ bàn tay và tâm trí của họa sĩ. Mỗi nét mực trên giấy hoặc lụa để lại một ấn tượng về tác giả; mực vẽ không chỉ đóng vai trò như chất liệu truyền tải cho bức tranh hoàn thiện, mà cũng biểu đạt cá tính của người họa sĩ. 

Trong bức tranh “Thấp Thoáng Cảnh Đẹp Bốn Mùa” của Kano Eitoku Tatsunobo (1814–1892), các khối đá lởm chởm và các chi tiết mặt đá tinh xảo gợi nhớ đến hội họa Trung Hoa cổ đại uyên thâm. Kano tôn trọng các quy tắc truyền thống được lưu truyền từ xưởng vẽ gia truyền lâu đời của ông, chính là các quy tắc trên nền tảng nghệ thuật hàn lâm Trung Hoa cổ đại. Kết quả là ông đã sáng tạo ra một bút pháp sống động đan xen các nét vẽ thanh thoát nhẹ nhàng.

“Sơn Thủy”,1828, thời Edo (1615–1868), Tani Buncho 谷文晁. Hai tấm bình phong gập sáu, mực và vàng lá trên giấy, mỗi tấm có kích thước 1.74m x 3.52m. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Có thể thấy sự tĩnh lặng trong tranh của Tani Buncho, mặc dù bút pháp của ông tương phản với Kano. Tani (1763–1841) thường dùng nét vẽ truyền thần mang tính cá nhân. Hiệu ứng của những chuyển động sống động này thêm phần hiệu quả vì mực không thể xuyên qua giấy kim loại, vàng lá. Mặc dù bút pháp của ông hàm chứa sự chuyển động, nhưng không có cái động nào trong bức tranh: Những chiếc thuyền đứng yên bất động, ánh sáng vàng ấm áp, hoàn toàn không thể biết nơi đây đang ở mùa nào trong năm.

Tuy nhiên, các mùa chắc chắn chiếm một vị thế trong nghệ thuật Nhật Bản. Các bức tranh thường thể hiện tất cả các mùa trong một khung cảnh, chẳng hạn như bức tranh về núi của Kano trong “Thấp thoáng cảnh đẹp bốn mùa”.

Thơ văn và chủ đề trong nghệ thuật Nhật Bản

Truyền thống giữ vai trò chủ đạo trong nghệ thuật Nhật Bản. Các họa tiết đóng vai trò như kiểu ngôn ngữ ẩn dụ để người xem có thể chiêm nghiệm và hiểu sâu sắc hơn về văn hóa.

Theo truyền thống, thơ văn là một hình thức nghệ thuật được đánh giá cao ở Nhật Bản; nhiều bức tranh phong cảnh có kèm theo văn xuôi hoặc thơ. Trên thực tế, thơ là hình thức nghệ thuật cao cấp ở Nhật Bản thời bấy giờ; vậy nên những chủ đề về phong cảnh thường xuất hiện đầu tiên trong các bài thơ, rồi sau đó là hội họa. Các câu chữ cũng là một phần trong bố cục, giúp diễn giải thêm về nội dung của bức tranh.

“Núi Phú Sĩ, diều hâu và cà tím”, thời Edo (1615–1868), Hakuin Ekaku 白 隠 慧 鶴. Tranh treo cuộn, mực trên giấy, 54 x 156 cm. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Một bài thơ trong bức “Đền thờ Tenjin” của Reigen Eto (1721–1785) kể cho chúng ta về những cây thông và hoa mận, mà một vị học giả tên Sugawara no Michizane (845–903), còn gọi là thần thơ Tenjin, rất yêu thích. Truyền thuyết nói về tình yêu của Sugawara với cây mận. Người ta nói rằng hoa mận của Sugawara có thể bay.

Trước khi đi khỏi Kyoto, Sugawara đã viết một bài thơ gửi niềm yêu thương tới loài cây này:

Nếu cơn gió đông thổi qua,

hãy nhờ gió gửi hương thơm của bạn cho tôi,

này hoa mận:

Đừng quên xuân thời

Vì chủ nhân của bạn đã đi rồi.

Bài thơ trong tiếng Nhật: kochi fukaba / nioi okose yo / ume no hana / aruji nashi tote/ haru o wasuru na

Chủ nhân ra đi, cây mận đau buồn đến nỗi theo gió bay qua khung cảnh bao la đến tiền đồn Dazaifu xa xôi để ở bên Tenjin; đó là lý do tại sao bây giờ nó được gọi là “Tobi-ume” (Mận Bay). Dù một số người nói rằng cây mận đã được trồng lại tại Dazaifu Tenman-gu (một trong những đền thờ chính của ông), chúng ta có thể hình dung qua nét vẽ nhanh khá trừu tượng của Reigen, hình ảnh hoa mận đang bay.

Ví dụ khác thể hiện sự kết hợp giữa hội họa và thơ ca, Bức tranh “Ba Thắng Cảnh của Nhật Bản” do Tanomura Chokunyu (1814–1907) vẽ cho thấy ba địa điểm nổi tiếng: Ama no Hashidate, Đền Itsukushima, và Matsushima. Tác phẩm có đề hai bộ thơ, một trên tranh cuộn của Tanomura và một trên tranh vẽ núi của Tomioka Tessai (1837–1924). Tất cả các bài thơ là chú thích cho các địa điểm trong tranh.

Thơ văn không chỉ được sử dụng để giải thích và thể hiện nội hàm của các bức tranh; chữ viết cũng có thể là một hình thức tranh. Tác phẩm “Núi Thơ Phú Sĩ” của Yamaguchi Shido (1765–1842) dùng chính những dòng thơ khổ dọc để tạo nên đường nét cho ngọn núi: Ngọn núi thực sự được tạo nên từ thơ; mỗi dòng thơ cho chúng ta biết về ngọn núi tôn kính cũng như tạo nên hình dạng của núi.

Các họa tiết trong tranh Nhật Bản là một cách khác để thể hiện ý nghĩa của các bức tranh phong cảnh, chẳng hạn như núi Phú Sĩ nổi tiếng tượng trưng cho vận may, hoặc cây thông tượng trưng cho sự kiên trì.

“Nachi Pilgrimage Mandala,” thời Momoyama (1568–1600), vô danh. Tranh cuộn, mực và màu trên giấy, 1.6 x 1.7 m. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Những hình tượng tốt lành nhất trong mơ vào năm mới của người Nhật, hay còn gọi là Hatsuyume, là núi Phú Sĩ, một con diều hâu, và cà tím. Nếu những hình ảnh này xuất hiện trong giấc mơ vào đêm đầu tiên của năm mới, theo truyền thống ở Nhật Bản là ngày mùng 1 tháng Giêng, báo hiệu một năm mới tốt lành. Hakuin Ekaku (1686–1768) thể hiện cả ba hình ảnh này trong bức tranh cuộn treo khổ lớn, với nét vẽ đơn giản, mạnh mẽ lấp đầy không gian rộng lớn. 

Không gian thiêng liêng

Vào thời cổ đại, người Nhật thường hành hương đến một ngôi đền hoặc một vùng đất thiêng. Những người hành hương được miêu tả trong bức tranh “Nachi Pilgrimage Mandala” cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về các hoạt động sôi nổi hàng ngày, bên trong và bên ngoài của một trong những ngôi đền được tôn kính nhất Nhật Bản. Những người hành hương sẽ tụ tập quanh bức tranh này để nghe kể về  những câu chuyện linh thiêng của ngôi đền. Chúng ta gần như có thể mường tượng những câu từ mà người kể chuyện sẽ nói khi nhìn các hình vẽ trong bức tranh từ phải sang trái, giống như khi đọc chữ viết tiếng Nhật.

“Trăng Thông ở Ueno”, trong tập tranh “Một trăm danh thắng ở Edo”, 1857, thời Edo (1615–1868), Ando Hiroshige 安藤 広 重. Được xuất bản bởi Uoya Eikichi. Tranh in mộc bản (định dạng oban tate-e), mực và màu trên giấy, 37x 25 cm. Quỹ Laura P. Hall Memorial Fund. (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton)

Khung cảnh trầm tư tĩnh lặng là một chủ đề khác trong tranh. Một bức tranh của Kameda Bosai (1752–1826) trong tập sách “Những Ngọn Núi của Trái Tim” thể hiện một người đàn ông đang tĩnh lặng ngắm nhìn những đỉnh núi. Và trong bản in của Katsushika Hokusai (1760–1849) về một ngôi đền nổi tiếng ở Edo (Tokyo), là hình ảnh những người đàn ông và phụ nữ đang chăm chú thưởng ngoạn núi Phú Sĩ.

Người phụ trách triển lãm, Watsky, một giáo sư về nghệ thuật và khảo cổ học Nhật Bản tại Princeton, hy vọng rằng “Chúng ta có thể thấy các nghệ sĩ Nhật Bản tôn vinh thế giới xung quanh họ như thế nào, núi non, sông nước, các danh lam ở Nhật Bản, những thắng cảnh Trung Hoa trong trí tưởng tượng; nhận ra được điều này, chúng ta sẽ có thể hòa hợp hơn với thế giới xung quanh, cho dù chúng ta ở đâu.”

Lorraine Ferrier
Phương Du biên dịch