Tiếp theo của phần XIII

Tiết hai: Đỗ Pháp-Thuận (914-990)

Từ bé được nung-đúc trong lò Phật-giáo, rồi ghé một vai vào việc xã-hội, phất cờ trên đàn văn, làm kinh rợn Lý-Giác, sứ Tàu, để quảng-cáo cho cái tên Đại-Cồ-Việt khi mới tô màu lại làm một quốc-gia độc-lập trên bản đồ cõi Á-Đông : ấy là họ Đỗ hiệu là Pháp-Thuận thiền-sư, nhiều người thường kêu là sư Thuận.

Học rộng, thơ hay, ông là người có tài kinh-luân và sáng việc thời-thế. Xuất gia từ thủa thơ-ấu, làm đồ-đệ sư Phù-Trì, Pháp-Thuận tu ở chùa Cổ-sơn.

Khi Lê mới sáng nghiệp, chính ông góp nhiều công vào việc kiến-thiết.

Chỉ thích làm một tên dân trong thời thái-bình, ông từ-chối hết các món phong thưởng, tỏ mình là người cao-thượng, không màng một mảy phú quí, vinh hoa. Trước cái thái-độ thanh-cao đó của ông, vua Lê Đại-Hành rất kính trọng : thường kêu ông là Đỗ pháp-sư, chứ không gọi tên.

Theo gương cần khổ của đức Thế-Tôn, ông dẫu gửi mình am mây, song vẫn vui lòng gánh vác việc nước : giúp quốc-gia về mặt văn-hàn.

Năm Thiên-phúc thứ 7 (987), ông tạm thay cà-sa, xúng xính trong bộ áo anh lại ở bến sông, đóng vai tiếp sứ Tống.

Nguyên bấy giờ vua Lê Đại-Hành mới hát bài đại thắng ở Chi-lăng, không khỏi in một vết căm-hờn trong con mắt nhà Tống. Nay nhân dịp Lý-Giác, sứ Tống, sang chơi, ngài muốn thị ny với Tàu về mặt văn-học cũng như khi tiếp sứ-bộ Tống-Cảo và Vương Thế-Tắc thì kéo cờ, dàn quân khắp nơi núi hang để dương oai về mặt võ-bị. Thế thì người gánh vác trách-nhậm tiếp sứ-bộ Lý-Giác bấy giờ tất phải là tay văn-học rất lỗi-lạc mới mong làm trọn công-việc ngoại-giao, khỏi mất quốc-thể.

Pháp-Thuận quả là xứng-đáng chức-vụ, khiến cho sứ Tàu phải khen phục lắm.

Khi vua Lê Đại-Hành hỏi về vận nước dài, ngắn thế nào, ông có đáp lại bằng một bài thơ chữ hán đầy vẻ huyền-bí, đại-ý nói : 

“Tộ-vận nước nhà như sợi giây mây. Dưới gầm trời Nam được sống trong cảnh thái-bình. Nhà vua ung dung vô-vi, ngự nơi đền-các, chốn ấy chốn khác đều tắt binh-đao.”

Năm Hưng-thống thứ 2 (990) đời Lê Đại-Hành, ông mất, thọ 76 tuổi. Ông có làm được quyển “Bồ-tát hiệu sám-hối văn” Ta nay dẫu không được hân-hạnh đọc sách đó là một tác phẩm trước nhất bằng chữ Hán của người Việt-nam, song cứ coi tên sách đủ biết nó là một thứ Thiền-thư chuyên khuyên người ăn-năn điều lỗi, thực tiễn tu-hành để thành chính quả Bồ-tát.

Sử cũ và bộ Thiền-uyển tập-anh còn chép Đỗ Pháp-Thuận có hai câu “Bạch mao phô lục thuỷ, Hồng trạo bãi thanh ba” nối vần hai câu thơ của sứ nhà Tống “Nga nga lưỡng nga nga, Ngưỡng diện hướng thiên ca”. Song tôi còn ngờ, nên chưa dám liệt vào thơ của ông.

Tiết ba: Ngô Chân-Lưu (959-1011)

Cái tên Ngô Chân-Lưu với chức Khuông Việt Thái-sư do vua Đinh phong cho, các bạn đã đọc Nam-sử hẳn không còn lạ.

Ngô Chân-Lưu người Cát-lợi, theo học nho từ thủa bé.

Người khôi-ngô, đẹp-đẽ, ông ôm chí thảng-thích, không chịu bó buộc theo lề-lối thường.

Lớn lên, xoay theo Thiền, ông thụ giới nơi Phong-vân thiền-sư ở chùa Khai-quốc thành Đại-la (Hà-nội). Từ đó, xem rộng sách Phật, sâu ngộ yếu-chí đạo Thiền.

Tuổi mới 40, thanh danh ông đã nổi cao theo đạo pháp. Mỗi khi vua Đinh Tiên-Hoàng vời vào bàn hỏi, ông ứng-đối rất vừa ý ngài. Vì vậy, ông được ngài phong một cái tước lớn như đã nói trên. “Khuông Việt” tức là “giúp nước Việt” : chắc thái-sư  họ Ngô bấy giờ có nhiều công lớn trong việc khuông-phò quốc-gia.

Lê lên. Ông là người được trọng đãi nhất trong con mắt vua Đại-Hành. Phàm các việc quân quốc trọng đại đều có ông dự vào cả. Chính ông phải giữ việc văn-mặc, giao-thiệp với sứ Tàu.

Khi Lý-Giác trở về Tống, ông có tiễn sứ-giả một bài khúc bằng chữ Hán để tỏ tình thân thiện giữa hai nước Bắc, Nam :

Nguyên-văn

Tường phong hòa-hảo, cẩm phàm trương !

Dao vọng thần-tiên phục Đế-hương.

Vạn trùng sơn thuỷ phiếm Thương-lang. (2)

Cửu thiên qui lộ trường…

Tình thảm-thiết,

Đối ly trường !

Phan luyến sử tinh lang…

Nguyện tương thâm ý khán biên-cương (3) :

Phân-minh báo (4) ngã hoàng !

 Dịch 

Gió lành xuôi thổi cánh buồm dương !

Xa ngóng thần-tiên, chốn Đế-hương…

Muôn trùng non nước chèo sông Thương,

Chín trời về đường đường…

Chén ly-biệt,

Tình thảm thương !

Nhìn cờ sứ : nhớ-nhung chàng !

Mấy nhời nhắn nhủ cùng quân thượng :

Săn-sóc chốn biên-cương !

Vì bài thơ này của ông, An-nam, một nước mới tổ-chức ở đời bấy giờ, được nổi tiếng là nước văn-hiến đối với người Tống.

Khi già, ông xin về ở quận nhà : mến cảnh Hí-sơn, dựng chùa để trụ-trì tại đó. Khao khát tiếng ông người ta theo học đông lắm.

Chịu ảnh-hưởng Phật-học, thơ ông nay còn sót lại vài vần (5) chỉ là tiếng vang của môn triết-lý đó. Ý-tứ thì phiêu-diêu như mấy tiếng chuông chùa lúc canh khuya ; lời văn thì mộc-mạc cũ-kỹ như pho tượng cổ ngồi dưới mái chùa hoang-phế.

Ông mất ngày 15, tháng 2 năm Lý Thuận-thiên thứ hai (1011), thị 52 tuổi (6).

Tiết bốn: Bức thư ngoại giao của đời tiền Lê 

Hồi Đinh, Lê độc lập, ta học Hán-văn đã tấn-tới lắm rồi.

Xem như khi sứ bộ nhà Tống là bọn Tống-Cảo sang ta vào khoảng năm 989, đã thấy ở cửa phủ thự đời Tiền Lê có đề mấy chữ : “Minh đức môn”, thì đủ biết trình-độ hán học của nước ta, cách nay độ một nghìn năm, đã cao là dường nào.

Lại xem như mấy vần thơ dẫn trên, đủ biết văn tài của các ông Đỗ Pháp-Thuận, Ngô-Châu Lưu chẳng kém gì những tay danh sĩ Tàu. Nhưng đó mới là một vài câu thơ làm tiêu-biểu cho lối văn vần ở đời ấy.

Nay nhân bức thư nhà Tiền-Lê giao thiệp với nhà Tống , ta thấy Việt-nam bấy giờ cũng đã nhập cảng được lối văn biền ngẫu rồi. Phải, ở Tàu, đời Tống, lối văn tứ lục rất thịnh hành, thể nào chẳng theo ngọn sóng biển Đông tràn vào mảnh đất Đại-Cồ-Việt.

Năm Thiên-phúc nguyên niên (980), vua Lê-Đại-Hành có sai các ông Giang-Cự-Vọng, Vương-Thiệu-Tộ đem bức thư, giả làm lời của Vệ-vương Toàn (con vua Đinh-Tiên-Hoàng), sang Tống để cầu nối ngôi.

Trong thư đại ý nói : Trước đây, vua ĐInh-Tiên-Hoàng và ông Liễn đã được nhà Tống giúp-đỡ, vẫn cẩn-thận giữ yên bờ-cõi, không dám ngang trái điều gì. Chẳng dè cái công đánh đông dẹp bắc chưa được đền-bù, thình-lình đã xảy đến cái nạn sinh tử biệt ly khiến phải bùi-ngùi vì cảnh đời người như giọt sương buổi sớm ! Nay vì tình thế ép-buộc, quân dân vật-nòi, ông Toàn xin quyền làm Tiết-độ, giữ việc quân sự và cai-trị xứ này. Vậy xin nhà Tống phong cho nối ngôi để tỏ cái ân-điển diên thưởng của triều-đại Tống và yên-ủi tấm lòng tận trung của ông (7).

Văn viết tay có nhiều câu đối nhau theo lỗi biền ngẫu, như :

Chưa hết cái nhọc ngựa đo mồ hôi,

Đã xảy nỗi buồn cuộc đời sương sớm

(Dịch)

…Cùng đến trong khoảng nấm mồ,

Xin quyền công việc quân quốc.

(Dịch)

Song lời văn hãy còn mộc mạc chứ chưa màu mỡ, hoa văn, bóng bẩy như đời sau.

(còn nữa)

HOA-BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Nguyên văn chữ Hán như vậy :

“Quốc lệ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái-bình.

Vô vi, cư diện các :

Xứ xứ tức đao binh.”

Dịch ra thơ ta :

Dõi nước như giây mây,

Trời Nam thái-bình đây.

Ung-dung ngồi đền các,

Binh đao tắt hết ngay.

2) Có bản chép là : “Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang”

3) Hoặc “Nam phương”

4) Hoặc “Tấu

5) Như câu : “Thuỷ chung vô vật diệu hư không. Hội đắc chân-như, thể tự đồng !” (Đáp ông Đa-Bảo hỏi thế nào là đầu và cuối đạo Phật”

Và bài :

Mộc trung nguyên hữu hoả,

Nguyên hỏa phục hoàn sinh.

Nhược vị bản vô hoả,

Toàn tuỵ hà do manh ?

6) Có bản nói thọ 79 tuổi.

7) Nguyên văn chữ Hán có in trong “Đại Việt sử ký toàn thư, nội kỳ” và dẫn trong mục “Bang giao chí” Sách “Lịch triều hiến chương” v.v.