Ông Lê Văn-Hòe mới xuất-bản một quyển sách đề là Tầm nguyên từ-điển (Dictionnaire étymologique et historique des mots et expressions sino annamites). Trong bài tựa ông nói rằng: “ Nếu quả như nhời nhà cổ-học Maspero, tiếng Nam mượn quá nửa phần ở chữ Hán, thì kê-cứu căn-nguyên những tiếng Việt-Hán và các điển-cố thường dùng trong văn-chương quốc-văn, được nhiều chừng nào càng hay chừng nấy” (trang 8, Mấy lời nói đầu). 

Việc ông nói đây rất là đích-đáng, nên làm; duy có lời nhà cổ-học thì không đúng. Lấy bộ Việt Nam tự-điển của Hội Khai-trí tiến-đức ra đếm từng chữ (những chữ cái, in lớn) thấy tất cả có 13 276 chữ: trong số ấy chỉ có 3 443 chữ Hán mà thôi. Vậy bảo rằng quá nửa phần tiếng ta ở chữ Hán mà ra thì thật là sal quá.

Ở cuối bài tựa, ông Lê Văn-Hòe nói rằng ông “còn chờ những điều chỉ-giáo của các bậc cao minh để bồ-túc cho cuốn từ-điển” của ông. Tôi không dám tự-nhận là một “bực cao-minh”, song mỗi khi đọc sách của ông lại thấy một vài chỗ ngờ, tôi có lấy tự-vị chữ nho ra tra lại, nay chép và dịch ra đây, một là để giúp những bạn thanh-niên muốn học chữ nhỏ hay sắp phải học chữ nho ở trường trung-học theo một cái chương-trình đầy-đủ hơn trước (chỉ tiếc nhà in không có chữ Hán để in vào đây cho rõ), hai là để làm một việc mà ông Lê văn-Hòe gọi là một “phận, sự chung của những người cầm bút biết lo tới tương-lai quốc-học và quốc-văn Việt-nam”.

I – Chữ A. 

Ở trang 11, dưới chữ anh hài, Ông Lê Văn Hòe nói “thời đứa trẻ nhỏ lên một vài tuổi gọi là thời hài đề, nghĩa là lúc còn mến khóc đòi ăn” Theo quyển Từ-nguyên, hài đề là trẻ con biết cười, ai cũng muốn ẵm (hài đề vị ấu-nhi tri hài-tiếu khả đề bão giả dã). Chữ ‘đề’ ấy viết thủ bên chữ thị, nghĩa là nắm lấy, đưa lên, cũng còn chữ đề-huề (mang dắt): “Đề-huề lưng túi gió giăng” (Kiều), Không phải chữ đề viết khẩu bên chữ đế; chẽ đề ấy : mở nghĩa là kêu, khóc. Những trẻ khóc thì dùng chữ nhi đề, không ai dùng chữ hài đề. Quyển Từ-nguyên dẫn nghĩa chữ nhi đề như thế này: “Viện-thuần đương bút ký chép rằng: ‘Có tục sợ trẻ con khóc, thường viết vài mảnh giấy dán ở-ngã tư (thông-cù), người đi qua mỗi người đọc một lượt, thì đứa trẻ nín’. (Ở nước Nam ta cũng có cái tục ấy, thường viết một bài tứ tuyệt bằng chữ đỏ vào giấy vàng). Nay nhân đọc bài phú Dũ xiển cân-dụ có câu ‘Nhi đồ ư khách đường’, trẻ con khóc ở nhà khách: cứ thế thì biết hai chữ nhi đề đã có từ đời nhà Tấn. Nhi đề còn nghĩa là tiếng giống tiếng trẻ con khóc. Sách Sử-ký chép Ống Tử-Sản làm quan 26 năm; khi mất, đinh-tráng kêu khóc, người già tiếng khóc như trẻ con (lão-nhân nhi-đề)”.

Cũng ở trang 11, dưới chữ anh hùng, ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa “anh” là phần đẹp-đẽ nhất trong cây cỏ: tôi tưởng nên cho là phần tốt đẹp, vì quyển Từ-nguyên giảng là “tinh-tụy trong một vật gì” , và cho nghĩa đẹp-đẽ (mĩ) xuống hàng thứ năm. Ông cắt nghĩa nhữ “hùng” là giống đẹp và khỏe nhất trong loài thú: nên xóa chữ đẹp, vì hùng chỉ có nghĩa là khỏe, không có nghĩa là đẹp, mấy lại, trong chờ anh hùng, chữ anh đã là đẹp rồi. Lắm khi chữ anh cũng không có nghĩa là đẹp nữa: quyển Từ-nguyên chua rằng: “trí hơn vạn người gọi là anh” (trí quá vạn nhân giả vị chi anh). Xem như thế thì cắt nghĩa anh-hào anh-kiệt là “đẹp và sức khỏe hơn người” và anh tuấn là “đẹp và giỏi” thì hơi nhầm; quyển Khang-hi tự-điển, chỗ chữ kiệt, cắt nghĩa như thế này: “Trí quá vạn nhận giả vị chi anh, thiên nhân giả vị chi tuấn, bách nhân giả vị chi hào, thập nhân giả vị chi kiệt.”

Ở trang 12 chỗ chữ ảnh-hưởng in nhầm chữ hưởng: phải chữa trên chữ hương, dưới chữ âm, chứ không phải chữ hướng. Nếu viết chữ hướng ở dưới, thì hưởng nghĩa là đối nhau, hoặc là hưởng-thụ (diện dã đối dã hưởng giả hưởng thụ dã; xem tự-vị Khang-hi).

Cũng ở trang 12, ông Lê Văn-Hòe cắt nghĩa chữ “ao là chỗ lõm xuống”; tôi tưởng nên theo tự-vị Khang hi giảng ra như thế này: đọc là ấp hay đọc là ao cũng được, một nghĩa là thấp kém, một nghĩa nữa là chỗ sâu hoắm; quyển Đan-diên lục của Dương-Thận chép rằng:  “Thổ oa viết ao (hoặc ấp), thổ cao viết đột, cổ tượng-hình tự”, nghĩa là đất sâu hoắm gọi là ao, đất cao vọt gọi là đột, theo chữ tượng hình đời xưa. Quyển Từ-nguyên chi chép có một nghĩa là thấp kém; “phàm vật chi đê-hạ giả giai viết ao hoặc ấp” phần việc gì thất kèm đều gọi là ao hoặc ấp. Cứ như thế thì tôi e rằng ông Lê văn-Hòe nói câu sau này khi vội quá: “Do nghĩa đó (là lõm), ta gọi chỗ đất trũng xuống có nước là ao: ao chính là một chữ Hán hoá thành tiếng Nam”. Đến ngay những tiếng vừa đồng âm vừa đồng-nghĩa còn chưa lấy gì làm chắc, huống-chi chữ nho lại có chữ chiều là ao nước.Thiết-tưởng và khoa ngôn-ngữ học cần phải khảo-cứu cho kỹ lưỡng xét xem thời Bắc-thuộc người Tầu đọc chữ ao ra thế nào? đã có sách của ông B Karlgren nói về sự nghiên-cứu ấy: Etudes sur la phonologie chinoise, v.v…), rồi tra xem các dân-tộc ở gần nước ta gọi ao là gì (trong quyển Les origines de la langue annamite, Việt-thoại khởi-nguyễn khảo, tập thứ nhất, in lần thứ tư, trang 70, ông E. Souvignet có so-sánh chữ Mã-lai danao (là hồ, đầm, ao) với tiếng đầm, ao của ta, và có nói rằng tiếng đầm của ta do chữ đàm của Tàu mà ra, và tiếng ao của ta do chữ áo của Tàu mà ra; chữ áo này cũng đọc là ức). Nói tóm lại, muốn nghiên-cứu về sự biến-hóa của tiếng ta, phải thận trọng lắm mới được, kẻo lại nhầm-lẫn như tướng H frey tác-giả quyển L’annamite more des langues là quyển nói về “Tiếng An-nam là mẹ đẻ ra các tiếng khác”; thí – dụ chữ Pháp petit (là nhỏ) cho ngày là ở tiếng bé-ti mà ra, chữ pain (là bánh mì) cho ngay ở tiếng bánh mà ra, v.v.

Ở trang 13, ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa chữ ấp như sau này: “Theo chế-độ cai-trị nhà Chu bến Tàu thời xưa, 8 nhà là một tỉnh, 4 tỉnh tức 32 nhà là một ấp, 4 ấp là một khấu 128 nhà, 4 khấu là một điện”. Cắt nghĩa như thế thì hơi thiếu, vì tự vị Khang-hi dẫn sách như sau này: ấp gọi chỗ người tụ-hội. Sách Sử-ký chép vua Thuấn đến ở một năm thành tụ, hai năm thành ấp. Sách Chu-lễ chép bốn tỉnh (tức bốn dặm vuông, viết như chữ tỉnh là diếng) gọi là ấp, bốn ấp là một khưu (muôn kiêng tên đức không thì đọc là khâu, không mấy người đọc là khấu).

Cũng ở trang 13, chỗ chữ âu-ca, phải chữa chữ âu, ngôn bên chữ khu; ông Lê văn-Hòe in nhầm chữ khu bền chữ khiếm: chữ Âu ấy là tôn châu Âu hay tên họ Âu Dương-Tu, không ai viết vào chữ âu-ca.

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn