Ở trang 20 quyển Tầm nguyên tử điển, ông Lê Văn Hòe cắt nghĩa “bách hộ là một trăm nhà”. Nên theo quyển Từ nguyên thăm một nghĩa nữa, là chức quan trong một về coi 100 người quan, nhà Nguyên (1277-1367) đặt ra nhà Minh (1368-1643) bắt-chước; quan và quân phần nhiều cha truyền con nối (thể tập). Còn lý-chính là một hương chức đời xưa. Sách Công dương truyền chú chép: “Một làng (chữ nho nhà lý) có 80 nhà; người trông nom các việc gọi là lý-chính, so với thứ dân là quan”. Từ nguyên chép đời Bắc-Tề (550-577) đời Tùy (589-617) đều đặt chức lý-chính. Đời Đường (618-905) trăm nhà (bách họ) là một làng: làng đặt một người lý chính. Đời Tổng (960-1276), đời Kim (1115-1234), đời Nguyên (1277-1367) đều theo chức ấy. Đời Minh (1368-1643) mới chuyển dùng tiểng lý trưởng (Minh thủy chuyên dụng lý-trưởng chi danh); ông Lê Văn Hòe lại chép “mãi đến đời Minh, chức lý chính mới đổi là lý-trưởng”. Theo quyển Từ nguyên thì bên Tàu lý trưởng cũng là hương-chức đời xưa, đời Hậu-Ngụy bắt chước phép đời Chu, lấy 25 nhà (gia) làm một làng (1) đặt lý trưởng. Đời Minh Thái-Tổ (1368-1376) định 110 nhà làm một làng (lý), làng chia ra mười giáp (thế là mỗi giáp 11 nhà), trong 10 nhà ấy chọn nhà nào nhiều định lấy 10 nhà làm giáp-trưởng, tất cả 10 giáp-trưởng, bằng năm theo công việc của một người lý-trưởng.

Ở bên Tàu thì thế, còn bên ta bộ Lịch triều hiến chương loại chi (quyển Quan chức chí) chép như sau này: “Đầu đời nhà Trần (theo bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục quyển 6, từ 21b -220b, thi bắt đầu từ năm 1242) vua Thái-Tôn (1225-1258) đặt đại tiền ti-xã: từ ngũ phẩm giở lên làm đại-ti-xã, lục phẩm giở xuống làm tiểu-ti xã, cùng chức xã chính, chức xã-giám, gọi là xã quan, sửa lại và làm sổ hộ tịch: chức nhiệm xem ra quan trọng, đời đời noi theo không đổi. Đến năm Quang thái (1388-1398) đời Trần Thuân Tôn mới bãi hẳn Nhà Lê, khi mới khai quốc, lại đặt xã-quan (theo bộ Cương mục, quyển 15, tờ 13 a b, thì từ năm 1428): xã nhớn ba người, xã vừa vừa hai người, xã nhỏ một người. Đến năm Quang-thuận (1460-1409), đời Lê Thánh-tôn, đổi chức xã-quan làm xã-trưởng. Từ hồi trung hưng về sau, trong năm Vĩnh-tạo (1658-1661), các châu huyện chọn đặt chức xã Trưởng, xã-sử, xã-tư, lấy những người nho-sinh và sinh-đồ cho làm; chức trách là chỉnh-lý việc làng, khám hỏi việc kiện-tụng. Các quán thừa-hiến các châu, huyện, xét người nào liêm, người nào tham, siêng-năng hay lười-biếng, cho thăng lên hoặc truất xuống. Đến đời Cảnh-trị (1663-1671), chọn những tử-đê nhà lương-gia cho làm xã-trưởng, huấn-hóa xã-dân, ba năm một kỳ xét công, thăng làm huyện-quan. Trong năm Bảo-thái (1720-1729), định phép xét công: phàm xã lớn, xã vừa, xã nhỏ, đều định danh số; quan trấn-mục giao cho coi giữ làng xóm, thu nộp các thuế. Nếu hai lần xét công, đều xứng-đáng chức việc, thì được thăng Phạm-tước; lễ định ba năm một lần xét, về sau lâu-lâu bỏ phép ấy, chẳng ai làm. Từ đời Long-đức (1732-1735) Vĩnh-hực (1735-1740) về sau, việc đặt xa-quan hết thảy tùy ý dân, phép xét công bỏ hẳn, mà quan trên chẳng lấy chức xã-quan làm trọng”.

Ở trang 23 quyển Tầm nguyên từ-điển, ông Lê Văn Hòe chép “ông Bản-Cổ là ông tổ sinh ra Trời, Đất và muôn vật trong thế gian”. Quyển Từ-nguyên chép như sau này (tôi dịch theo nguyên-văn để độc-giả biết qua cái học vũ trụ của người Tàu đời xưa): “Tương truyền giời đất mới mở. Bản-cổ ra đầu trị đời”. Quyển Ngự lâm dẫn Từ-chỉnh tam ngũ lịch nghị chép “giời đất hỗn-độn như trứng gà. Bàn cổ sinh ở giữa 18 000 năm; giời đất mở-mang: Bàn-cổ ở trong, một ngày chín lần biến: hóa: khi làm thần trên giời, lúc làm thánh dưới đắt. Giời mỗi ngày cao lên một trượng, đất mỗi ngày dầy thêm một trượng, Bàn cổ mỗi ngày dài lên một trượng, cứ như thế 18.000 năm: số giời rất cao, số đất rất sâu, Bàn-cổ rất dài”. Quyển Thuật-dị-ký chép: Bàn cổ là tổ muôn vật trong giới đất, thế thi sinh vật mới từ Bàn cổ” (Bàn cổ thị thiên địa vạn vật chi tổ dã, nhiên tắc sinh vật thủy ư Bàn cổ; xem như thế thì câu của ông văn Hòe dịch bơi sai). Quyển Lộ sử chép “khi mới có giới đất, có họ Hỗn-độn ra làm việc trị đời”; Lộ sự chua một câu rằng “tức là họ Bàn cổ, thần-lính một ngày chín lần biến”. 

Ở trang 26, chỗ chở bảo-bối, ông Lê văn Hòe cắt nghĩa “bảo là báu, là quí trọng, đắt tiền và hiếm có” Hai chữ “đắt tiền” và “hiếm có” có lẽ thừa. Quyển Từ-nguyên cắt nghĩa rằng. “Thường gọi vật gì quí báu là bảo-bối” (thông xưng vật chỉ trân-qúi giả, viết bảo bối). Ngoài những nghi chép trong từ điển của ông Lê văn Hòe, chữ bảo còn có nghĩa là tôn quí người ta, như gọi gia-quyến người ta, dùng cho bảo quyến, cửa hàng người ta dùng chữ bảo hiệu. Chữ quí cũng nghĩa như thế, như hỏi họ người ta thì nói là quí tính, hỏi quán-tịch người ta thì gọi là quí-tỉnh, quí-huyện. Sách chép về thế kỷ thứ mười bảy người Hòa-lan gọi nước ta là Quí-Nam (Xem tập Bulletin des Amis da Vicus Hue, năm 1914, trang 337-340, 347-351, và quyển sách của ông W J, Buch soạn bằng tiếng Hòa-lan, đề la De Oost – indische Compagnie en Qainam). 

Ở trang 27, chỗ chữ báo cô, ông Lê văn Hòe cắt nghĩa báo là trông coi, gìn-giữ: thế thì hơi nhầm. Từ-nguyên cắt nghĩa bảo là nuôi (dưỡng) và báo cô là theo tình-trạng nhẹ nặng nuôi người bị đánh có hạn ngày: trong hạn nếu để chết thì mình bị tội nặng (hạn nội trí tử tắc tọa trọng cô dã): bởi đó mới có chữ “nuôi báo cô”. Cũng ở trang 27, chỗ chữ bát-cổ, nên chữa lại như sau này: “Phép thư đời Tống (960-1276) lấy văn ngũ-kinh làm đầu bài, bắt giải rõ nghĩa, cho nên gọi là kinh-nghĩa. Nhà Minh (1368-1643), nhà Thanh (1644-1912) bắt-chước, nhưng thể-tài hơi khác. Người ta quen gọi là bát-cổ, lại có khi gọi là chế-nghê, có khí gọi là thời-văn. Đến cuối nhà Thanh bỏ khoa-cử thì mất hắn lối văn ấy” (chép theo Từ-nguyên). Như thế thì “bát-cổ” là lối văn kinh-nghĩa, tục quen gọi là bát-cổ chứ không phải là một tên tục của văn kinh-nghĩa như lời ông Lê văn Hòe viết trong Tâm nguyên từ-điển, (trang 28). Lối kinh-nghĩa mà hóa ra lối bát-cổ thì bắt đầu từ đời Thành-hóa (1465-1487). Từ-nguyên chép “cổ nghĩa là đối nhau. Từ năm Thiên-thuận (1457-1664) vê trước, lối văn kinh-nghĩa cốt là phô-diễn truyện, chú hoặc đối, hoặc tán, không có đinh cách. Từ khoa thi hội năm Thành-hóa thứ 23 (1487), mới chính-đính lai lối văn kinh-nghĩa: phép bát-cổ bắt đầu từ đấy”. Ông Lê văn Hòe nói rằng “Sau khoa thi hương năm Ất-mão (1915) tại Bắc-kỳ, khoa thi hương bị bãi bỏ”. Nên thêm rằng: Sau khoa thi hội năm kỷ-mùi (tức là năm Khải-định thứ tư 1919) tại Huế, khoa thi hội cũng bỏ nốt.

Ở trang 29. Ông Lê văn Hòe cắt nghĩa “bát âm là tám thứ tiếng do tám đồ âm nhạc thời cổ nước Tàu và nước ta phát ra” (?) Các sách nói về âm nhạc như quyển Essai historique sur la musique classique des Chinois của ông Maurive Courant đăng trong bộ Encyclopédie de le musique, đều chép bát âm tự người Tàu đặt ra trước; thế thì nên xóa chữ “phát ra” ở cuối câu giải nghĩa của ông Lê văn Hòe. Còn chữ ngũ âm, nên bắt chước các sách chua cung, thương, dốc, chủy,vũ là fa sol la, do, re, chứ cắt nghĩa chữ cung là “tiếng to ồ-ồ” rồi đánh dấu hỏi, thì không ích gì cho độc-giả. Từ nguyên cắt nghĩa chữ cũng là “rất thấp, rất đục” (tối lạ, tôi trọc). Khang-hi tự-điển dẫn sách Tiền-Hán luật lịch chi như sau này: “Cung là giữa, ở trung-ương, thông suốt bốn phương, xướng đầu ra bốn âm kia”.

Ở trang 30, ông Lê văn Hòe cắt nghĩa chữ bạt “là đường đi bộ”,… “ là lội nước hoặc đi đường thủy” bạt-thiệp “là đi khắp nơi non nước”; cắt nghĩa như thể thì nhầm, vì Từ nguyên nói bạt-thiệp “là đi đường khó nhọc” (ngôn hành lý chi nan dã): đi lên cỏ gọi là bạt” (thảo hành viết bạt),  “đi chân không lội nước gọi là thiệp” (đo hành lê thủy): chữ này chép theo Tự vị Khang-hi.

Cũng ở trang 30, chỗ phụ-chú, ông Lê văn Hòe dặn “đừng dùng lẫn chữ băng với hai chữ thăng hà”, ông không nói rõ tại sao, nhưng có lẽ nhầm, vì Từ nguyên, ở chữ thăng-hà, chua là “vị thiên-tử băng dã” (đứng thiên-tử mất): như thế thì chữ băng và chữ thăng-hà có thể dùng lẫn với nhau được.

Ở trang 31, dưới chữ bắn sẻ, nên thêm rằng: ngày nay lấy chữ tước-bình (bình phong vẽ chim tước) vị vào việc kén rể” (kim dĩ ngôn tranh tế chi sư) (chép theo Từ nguyên). Dưới chữ bệ-hạ, nên dẫn ( quyển Độc đoán chép đứng thiên-tử tất có cận-thần, cầm đồ binh-khí đứng canh bệ để phòng việc chẳng ngờ bày-tôi tâu vui không dám trỏ rõ, cho nên dùng chữ bệ- hạ” (chép theo Từ-nguyên).

Ở trang 33, ông Lê văn Hòe cắt nghĩa biệt-thự “là ngôi nhà làm riêng ở nhà quê cách biệt hẳn với nhà mình ở thường”: nên xóa ba chữ “ở nhà quê” Vì Từ nguyên chỉ chua rằng ! “ngoài chỗ nhà ở, làm riêng chỗ chơi-bời nghỉ ngơi, gọi là biệt-thự” (ư cư trạch ngoại, biệt-vi du tước chi địa, viết biệt thự).

Cũng ở trang 33, ông Lê Văn Hòe cắt nghĩa “bình-duynh: bình là bình-phong; duynh là dinh-trai: bình-duynh đây dùng theo nghĩa bóng là khép-nép thận-trọng như người con gái ở sau bức bình-phong (tức là ở trong buồng khe (buồng the ?) lắng nghe) như viện đại-tướng ở trong doanh-trại, tức là ở nơi cầm quân”. Từ nguyên cắt nghĩa bình-doanh là “sợ-hãi” (hoàng-khủng dã), chứ không phải là “khép-nép thận-trọng”, và dẫn một cấu sách Quốc-ngữ như sau này: “Bình-doanh hàng-hoàng và sơn lâm chi trung”, nghĩa là sợ-hãi bàng-hoàng ở tròng rừng núi. 

Ở trang 34, dưới chữ biểu-lý, ông Lê văn Hòe viết nhầm chữ : nguyên một bàn chữ y (là áo mặc), một bên chữ là làng hoặc đặm đường); có khi viết chữ lý ở giữa, còn chữ y chia một nửa ở trên, một nửa ở dưới: ông Lê Văn Hòe viết mất nửa trên.

Ở trang 35, ông Lê văn Hòe viết rằng: “Hoàng-Thượng cùng Lý-ứng đến làm quan Tư-đồ nước Ngụy. Cả hai đều lấy con gái quan thái-úy Hoàn-nguyên-Thúc. Người thời ấy bảo hai con gái Nguyên-Thúc đều cưỡi rồng (thừa long). Do đó, sau người ta dùng hai chữ thừa long (cưỡi rồng) để nói người con gái lấy được chồng danh giá sang trọng như ý muốn”: Nên theo Từ-nguyên chữa lại như sau này: “Kinh Dịch có câu: ‘Thời thừa lục long dĩ ngự thiên’ nghĩa là có lúc cưỡi sáu con rồng để trị ngôi giời, ý nói con rồng lúc ẩn lúc hiện, lúc bay lúc nhẩy, nhân thời mà đông (biến hóa). Liệt-tiên truyện chép Tiên-Tử khi đắc đạo hay thổi sáo. Tần Mục-Công gả con gái Lông-Ngọc cho. Sau Lông-Ngọc cưỡi phượng, Tiền-sử cưỡi rồng, cùng đi lên giời. Sở-quốc tiên-hiền truyện chép Hoàng-Hiển (sách Sơ-học ký chép là Hoàng-Thượng) và Lý-ưng (chứ không phải Lý-ứng) đều làm rể quan thái-úy Hoàn-Yên (tư là Hoàn Thúc-Nguyên, chứ không phải  Hoàn-nguyên-Thúc). Người bấy giờ khen Hoàn Thúc-Nguyên có hai con gái đền cưỡi rồng, ý nói được rể như rồng. Thơ Đỗ-Phủ có câu: “Môn-lan đã hỉ-khí, nữ-tế cận thừa long”, nghĩa là cửa ngõ nhiều hỉ-khí, con rể giống như cưỡi rồng. Ngày nay dùng hai chữ thừa long để khen người được rể hiền: gốc ở đấy”

Ở trang 35, ông Lê Văn Hòe cắt nghĩa “bồ phục là nằm sấp xuống đất đi bằng chân tay”. Đã nằm sấp thì đi  làm sao được ? Từ-nguyên giảng bồ-phục là “cúi đầu mà đi” (phục hành dã) và dẫn một cấu kinh thi rằng: “Phàm dân có tang, vội-vàng đến cứu, nghĩa là chân tay đều đi, nói dáng đi rất vội vàng ? (Phàm dân hữu tang, bồ phục cứu chi, thủ túc tịnh hành, trạng cấp cự chi thậm). Ông Lê văn Hòe thêm một câu rằng:  “Bồ-phục sau biến thành phủ phục”. Không chắc có thật biến như thế không, nhưng phải chua rằng chữ phục ở phủ-phục viết khác hẳn chữ phục ở bồ-phục: chữ phục này có một âm nữa là bặc: bồ bặc hoặc bồ-phục

Ở trang 37, dưới chữ Bồng lai (tên núi tiên) nên chua rằng có sách chép là Bồng hồ, cũng như phương hồ, Doanh hồ. quyển Từ-nguyên dẫn sách Sử ký như sau này: “Bồng lai, Phương trượng, Doanh Châu là ba núi thần ở trong Bột hải, thường có người đến đó; các người tiên và thuốc bất tử ở đấy; giống vật và cầm thú đều trắng, cung quyết làm bằng vàng bạc”.

(Còn nữa) 

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn