Trai Cung là một tòa nhà gần đàn Nam-giao ở Huế. Nhà-vua, trước khi tế Trời, Đất, phải lên ở tại đấy một ngày để trí-trai, tức là ăn chay. 

Trong Trai-cung, chỗ vua ngự, có bày một pho tượng nhỏ bằng đồng, gọi là (đồng-nhân), hình-dung một vị quan vận áo tế, đội mũ không cánh chuồn, đi bia, hai tay chắp vào ngực và cầm một cái thể khắc hai chữ “Trai-giới”. 

Về tục này có người kể chuyện lại rằng: Khi xưa, ở bên Tàu, người ta thấy một cái tượng bằng đồng, trong rỗng, nổi lênh đênh trên mặt nước ở biển. Nước biển chẩy vào trong pho tượng ấy rồi phun ra đằng miệng và mũi những tia nước xanh biếc và trong trẻo. Người ta lấy dấy làm tiêu-biểu cho sự thanh-tịnh.

Đặt-diện với vị “đồng-nhân”, nhà vua phải có những cảm-tưởng, ý-nghĩ trong sạch, và một lòng rất thành-kính đối với các vị Hiệu-thiên Thượng-đế tức là Trời, Hoàng-địa-kỳ tức là Đất.

Trong trường hợp này, vua thường ngâm-vịnh một vài bài thơ. Cho nên trong cuốn Minh mạng ngự chế thi, ta được đọc bài sau này:

Trai cung ngẫu vịnh 

Trai cư chuyên dĩ kinh trì thân, 

Tự tảo linh-đài vật-dục trần. 

Phần, điển, thi, thư, liêu tác bạn, 

Vẫn tâm diệc khả đối đồng-nhân. 

Bài này ông Trần-hàm-Tấn có dịch nôm: 

Một niềm trai kinh giữ mình ta, 

Tự quét lòng trần sạch-sẽ ra, 

Phần, điển, thi, thư thường kết bạn, 

“Người đồng” nhìn mặt thẹn chi a !

Nhiều lần làm thơ xong, nhà vua còn muốn dùng thời-giờ bằng những hành-vi nhẹ-nhàng, có ý-nghĩa Nên ngày 20 tháng 3 năm 1834, tức là trước lễ tế Giao một ngày, đức Minh-mạng tự tay trồng một cây thông để làm kỷ-niệm. Mỗi cây đều có đeo một cái thẻ bằng đá, trong có khắc niên-hiệu và tên vị nào đã trồng.

Mới đây, nhân lên coi công-việc tu-bổ Trai-cung, chúng tôi thấy một vài cây thông còn đeo thẻ; nhưng phần nhiều đã bị thời-gian xóa nhòa những nét khác trên thẻ đá. Tuy vậy, chúng tôi cũng cố chùi và đoán được những chữ sau này:

“Minh-mạng thập ngũ niên, giáp ngọ, cung thuyên.” (1) 

Còn bên kia khắc hai chữ “Ngự minh” và một bài tứ ngôn, khắc làm hai giòng:

靈 氣持雨露長洗

Linh khi trì hộ, vũ lộ trường kiêu (2); 

 嵗 月 長在 豈止 後 凋

Tuế nguyệt trường tại, khởi chỉ hậu điêu (3) ? 

Trong bài từ-ngôn này ba chữ đầu rất mờ, chữ trên chỉ còn thấy rõ bộ “vũ” ở đầu, chữ thứ hai chỉ còn có nét “móc câu”, chữ thứ ba, một bên tựa hồ như chữ “tự”. Như các độc giả đã thấy, chúng tôi đoán ba chữ ấy là “linh, khí, trì”.

Còn một cái thẻ nữa, chữ còn rõ, một bên khắc: “Hoàng tử đệ thập nhị thực” (4) . Và một bẽn khắc: “Minh-mạng thập ngũ niên”  Còn mấy chiếc thẻ khác đều sứt, mẻ hoặc chữ mờ quá, khó đọc.

Hiện nay trong sân nhà vua ngự có 3 cây thông, và xung-quanh chiếc nhà ấy đếm được hơn tám chục cây thông nữa. Cũng có cây còn nhỏ, đo đường kính của thân cây chỉ độ mười phân tây, chúng tôi chắc-chắn là mới trồng. Có lẽ người ta đã trồng thế vào những cây đã khô-héo.

TỪ LÂM (Huế) 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Năm Giáp-ngọ, niên hiệu Minh-mạng thứ mười lăm (1894), kinh khắc, 

2, 3) Khí thiêng vua-giúp giữ-gìn mưa móc nhuần tưới, cây thông còn mãi mãi với năm, tháng, há chỉ tàn sau tiết lạnh rét thôi đâu ?

4) Hoàng tử thứ mười hai trồng.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn