Tết đến, ta thường gián cổng hoặc tường cho trẻ em chơi những tấm tranh tuy màu sắc mộc mạc, nhưng cũng có đôi phần lý-thú : Nào Đám cưới chuột, Cóc dạy học, Con gà, Con lợn, Ông tướng, Tam đa, Tiến-tài, Tiến-lộc, Nhị-thập-tứ-hiếu, Công việc nhà nông v.v…

Gốc-tích sự dán tranh do ở điển này : Ở dưới gốc cây đào núi Độ-sóc có hai vị thần gọi là Thần-Trà và Uất-Lũy cai-quản đàn quỷ, hễ thấy quỷ nào nhiễu hại nhân-gian thì tức khắc ra tay tiêu trừ. Nên mấy ngày tết, người ta dùng mấy chữ tên hai thần ấy hoặc dán tờ tranh ở cửa cũng không ngoài cái ý trấn-trừ ma quỷ và cầu may trong dịp năm mới.

Gặp ngày phiên chợ nắng hanh.

Dạo xem mấy dẫy bán tranh tô màu

Này này đám chuột rước dâu,

Có chú mèo lớn ngồi chầu một bên.

Khen cho chuột cũng gan liền,

Chẳng chút sợ-hãi, ngang-nhiên, đàng-hoàng.

Cụ đồ Cóc thế mà sang,

Ngất-nghểu trên sập, trước bàn sơn son.

Quanh mình, lố nhố trò con,

Kìa anh lười nhác phải đòn nên thân.

Nọ anh quạt nước chuyên-cần,

Trọng thầy như thể hai thân khác napf.

Lại đôi gà sống cổ cao,

Xòe cánh như muốn xông vào trọi nhau.

Mấy con lợn bột nhâu nhâu,

Xúm quanh bên mẹ, châu đầu vòi ăn.

Nông-gia công việc siêng năng,

Cầy bừa, cuốc xới nhọc nhằn luôn tay.

Làm ăn vất-vả xuốt ngày,

Khi cấy, khi gặt, khi xay thóc vàng.

Giã xong thôi lại giần sàng, 

Được miếng com dẻo muôn vàn công-lao !

Tam-đa, cảnh ấy đẹp sao,

Đủ Phúc-Lộc-Thọ lẽ nào chẳng mua.

Hăm bốn điều hiếu thuở,

Đem việc người trước xếp vừa tờ tranh,

Cầy voi ông Thuấn tuổi xanh,

Đã nên hiếu-thảo thơm danh muôn đời.

Mạnh-Tôn, mầm trúc còn tươi,

Quạt nồng, ấp lạnh, nhớ người Hoàng-Hương.

Chuyện xưa dù có hoang-đường,

Khuyên ai lấy đó làm gương soi cùng.

Này là quan Tướng oai phong,

Mình giáp, tay kiếm, anh-hùng lắm thay !

Như ai ta cũng cầu may,

“Tiến-tài, Tiến-lộc” mua ngay đem về.

Cu con trông thấy hả-hê,

Gián lên cánh cửa liền kề lối đi

VÂN-THẠCH

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn