Nguyên văn chữ hán

小娃撐小艇

偷採白蓮回

不解藏蹤跡

浮萍一道開

Tiểu hài sanh tiểu đỉnh, 

Thâu thái bạch liên hồi, 

Bất giải tàng tung tích: 

Phu bình nhất đạo khai !

Trì thượng

Dịch 

Cô em bơi chiếc thuyền con, 

Hái trộm đen trắng, bon bon vừa về. 

Dè đâu dấu vết còn kia ! 

Rễ quang một vệt: bèo chia đôi đằng ! 

Chú giải 

Tiểu hài là cô bé đinh đẹp.

Sanh là cằm, có khi đi đôi với chữ trì, thành tiếng kép là sanh trì, nghĩa là cầm nắm gìn giữ. Sanh tiểu đỉnh đây, xin hiểu ngầm là cầm chiếc sào mà đẩy con thuyền nhỏ.

Thâu là lấy trộm, hơi giống với thiết là lấy cắp.

Bất giải là không biết, không hiểu.

Tàng là cất giấu, không để lộ ra,

Tung tích, nghĩa đen là chỗ bước chân in xuống thành dấu vết, nghĩa bóng là tăm bóng người nào hoặc vật nào hay là những vết của sự vật gì còn đề hình-tích lại.

Phụ bình là bèo nồi. 

Nhất đạo là một đường lùi. 

Đại ý bài này: Thấy hoa seu

trắng nở mơn mởn, cô em xinh đẹp bơi chiếc thuyền con đi hái trộm. Nhân vì thuyền qua, bèo dạt, mở thành một đường dấu vết trên mặt áo, khiến ai trông thấy cũng biết ngay là có người vừa thả thuyền, lướt qua mặt bèo, hái vụng hoa sen trắng. Cô em hãy còn ngây thơ, hành động theo tự nhiên, nên không để ý giấu giếm việc mình đã làm. | 

Bài này hay vì tác giả Bạch Cư Dị đã khéo diễn tả được nhiều nét kỳ diệu: Cô em bé bỏng chở chiếc thuyền cũng bé nhỏ xinh xắn. Sau khi thuyền đã đi khỏi, người đã về rồi, trên mặt bèo xanh lềnh bềnh trong ao còn in lại một vệt quang đãng, khiến người ta biết ngay đó là quang cảnh sau khi có thuyền vừa xuống hái sen. 

Tác giả lại khéo dùng những tiếng hình dung từ để vẽ những cảnh vật trước mắt: Sắc sen trắng gợi cho người đọc liên tưởng đến nước da trắng mịn, của cô em măng sữa ngây thơ,

Đó là một lối thơ rất có màu sắc. Lại, khi đọc đến hai tiếng bèo nổi, ta tưởng tượng ngay đến thân bèo lềnh bềnh trên ao, hễ chiếc thuyền lồng qua thì bèo phải nhẹ nhàng dạt ra hai bên, để lộ sắc nước trong trẻo.

Bài thơ này như một bức vẽ: phác sơ mấy nét mà có cái viễn vọng xa xăm, man mác, mông mênh, 

Bài thơ này như một bản đàn: đường tơ tuy ngừng, nhưng dư âm hãy còn bên tai văng vẳng….

Tiểu sử Bạch Cư Dị 

Bạch, tên lý là Lạc Thiên, người Thái Nguyên đời Đường

(618 – 906), đỗ tiến sĩ đời Nguyễn Hòa (806 – 820), làm chức Tả thập-di, rồi bị biếm truất phải ra làm Tư mã ở Giang Châu. Năm Nguyên  Hòa thứ mười (815), Bạch viết được bài Tỳ Bà Hành, một áng văn kiệt tác nổi tiếng suốt xưa nay. Trong có những câu hay, đẹp như: 

Điền đầu, ngân phê kích tiết toái: 

Huyết sắc la quần phiền tửu ô..

Kim niên hoan tiếu phục minh niên, 

Thu nguyệt, xuân phong đẳng nhàn độ?  

Nghĩa là : 

Vành lược bạc chia tan dịp khổ, 

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi ? 

Năm năm lần lữa vui cười, 

Mải giăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu 

(Theo bản dịch của Phương Đình Nguyên  Siêu tiền sinh)  

Về sau, Bạch lại được vời về triều, làm đến Hình bộ Thượng thư.

Khi tuổi già, Bạch tìm thú mua  vui bằng câu thơ, chén rượu,  hiệu là Túy Ngâm tiên sinh (ông say rượu và hay ngâm thơ) Bạch có nhà ở Hương Sơn, nên xưng là Hương Sơn cư sĩ. 

Thơ Bạch có những đặc sắc này: sâu sắc, ôn hậu, đẹp đẽ, chặt chẽ nhưng bao giờ cũng nhuộm màu bình dị. 

Vua Thanh Càn Long có phê bình về thơ Bạch rằng: “Cội gốc thì dựa theo cái tôn…chỉ sáu, nghĩa trong kinh Thi, nhưng không lỗi mất cái ý ôn hậu, hòa bình. Biến đổi lối thơ hùng hậu, thượng kính của Đỗ Phủ, Bạch làm ra lối trời chảy, êm ả và rõ ràng không noi theo diện mạo nhưng vẫn lột được cái thần thái và ý vị của thơ Đỗ Phủ.”

Đương đời bấy giờ, người ta đua nhau theo lối Hán, Ngụy, đặt ra những thơ cổ kính, khó khăn

Rất đối có người lại làm thơ theo lối Nhã, Tụng trong kinh Thi đề lòe loẹt ta đây là cao ky, là học rộng. 

Phản động lại phải thơ trên, Bạch gây ra một lối thở thật dễ hiểu được cốt sao cho lọt được vào tai bình dân.

Khi làm thơ, Bạch muốn cho bà lão nhà quê cũng có thể hiểu được. Đọc lên hễ người ta không hiểu thì Bạch lại làm lại, vì có tính cách bình dân ấy, thơ Bạch được lưu hành ở đường thời một cách rất phổ cập. Từ vương công đến các chị em dưới xóm và các trẻ chăn trâu bò chẳng ai không truyền đọc thơ Bạch. 

Thơ của Bạch chẳng những được truyền ở Tàu, ở ta, mà cũng được lưu hành ở Cao Ly và Nhật Bản nữa.

Mỗi khi lại tơí xóm chị em, ai là không được nghe bài dịch thơ “ Tì bà ” của Bạch đo chị Lan, chị Tuyết giới thiệu với ta bằng giọng du dương, uyển chuyển? Đó,thơ Bạch được phổ cập là thế.

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)