Năm ngoái (Hội-đồng tổ-chức Hội Trường-yên, (Ninh-bình) có xuất bản một quyển sách đề là Hội Trường yên (in ở nhà in Ngô-tử-Hạ, Hà-nội ) “để giúp vào việc tu sửa lăng-tẩm và xây nhà công-quán Trường-yên”. Trong sách có đăng một bài Đinh Tiên Hoàng diễn-ca (trang 16-25) và có nói rằng bài diễn ca ấy “hội-đồng mới sưu-tầm được bởi một cổ-lão ở Trường-yên, năm nay (là năm a1941) đã ngoài 80 tuổi lại mà biên ra. Tuy cũng có chữ không rõ nghĩa, không hợp vần, và nhời văn hơi thực-thà, kém điển-nhã, nhưng đó là một áng cổ văn truyền tụng từ xưa, có thể coi như thơ Mân Phong đời Chu và điệu Nhạc Phủ đời Hán, nên cứ theo y nguyên-văn sao-lục, không dám thêm bớt cho được tồn cổ”.

Xét ra, có nhiều câu giống với bài chữ nôm chép trong quyển Thiên-Nam ngữ-lục ngoại-kỷ (sách viết của Trường Bác-cổ, số AB 478, tờ 58b-68b). Nhưng bài quốc ngữ của Hội Trường-yên chỉ có 270 câu, mà bài chữ nôm của Trường Bác-cổ có những 634 câu (chưa kể những câu sấm và những nhời dẫn bằng chữ nho hay chữ nôm).  

Nay nhân ngày hội Trường-yên chúng tôi sao lại quyển Thiên nam ngữ-lục cho thật đủ và chú dẫn các điển tích về sử nước nhà, để kỷ-niệm một bậc: “Vạn thắng vương” đã có công dẹp yên trong nước, dựng phép trong triều và giữ được thể-thống một nước tự-trị.

Nhời dẫn 

(nửa trên bằng chữ nôm, nửa dưới bằng chữ nho.)

Tiệp-lục chép rằng vua Đinh Tiên-hoàng (968-979) là con vua Đinh-công-Trứ (chép theo nguyên-văn) họ nhớn đất Đại-hoàng, Hoa-lư, nay là phủ Trường-yên, cờ lau mở sơn-động, kẻ thôn-đồng bày uv-nghi thiên tử; rồng vàng nổi bến Đàm-gia, đứng thúc-phụ sợ triệu-trẫm đế-vương. 

I  Đinh Công Trứ khấn giời sinh thánh

Trần-ai khôn kẻ biết thay, 

Đất lành Gia-viễn giời rày giáng sinh. 

Tên là Bộ Lĩnh thông-minh 

Cha xưa thứ-sử nhậm thành Hoan-chân. 

Là Đinh-công-Trứ thuở xưa,  

Đế-vương trưng dấy, giời đà giáng sinh, 

Đinh-công thuở nhậm Hoan-thành. 

Biết một hiền-lành, chẳng chút gian tham

Thấy đời loạn-lạc bắc nam (1), 

Những kẻ ngu-phàm, chẳng kẻ hiền mình. 

Thuở nào cứu được thương-sinh. 

Tá-tài thiển-lậu sở-danh bình-thường. 

Đêm đêm từng dậy đốt hương. 

Nguyện giới sinh thánh cứu phương dân này: 

“Tôi dầu có phúc mai này, 

Nguyện cùng thiên-địa, chớ riêng chỉ là. 

Tôi dầu ít chính nhiều tà, 

Nguyền nương sức khác để ra trị đời”

II – Vợ thấy mộng lạ đẻ con giai

Phu-nhân vừa thuở canh hai, 

Mộng thấy một người cao cả trượng-phu. 

Cong tay cầm cái tỉ-phù, .. 

Đến khiến mày-mò xin làm mẹ con (2).

Nàng từ sực thức trướng Loan. 

Lấy chiêm-bao ấy mới toan cùng chồng.

Đinh-công nghe biết mừng long, 

Càng tu đức trước để phòng thân sau

Phu-nhân từ động thai-bào  

Kỳ kể mong hầu mười tháng sinh ra,

Được một nam-tử bằng hoa, 

Đinh-công mừng-rỡ, hòa nhà dưỡng nuôi. 

III Đinh Công Trứ từ trần 

Hay đầu tuần vận ở giời, 

Vậy nên ách nước bời-bời can-qua.

Phải thằng Công-Tiễn gian-tà, 

Đinh-công từ chức, về nhà Hoa-lư. 

Con còn trứng nước ngây-thơ, 

Đặt tên Bộ-Lĩnh để chờ nối tông.

Ai ngờ vận cả Đinh-công, 

Dã đời phút hóa giấc nồng Trang Thu

Nàng từ góa bụa bơ-vơ, 

Quan thanh nhà khó, con thơ sẩy chồng 

Hòa thêm binh-cách chiến-phong 

Cửa nhà đói kém, hầu mong cậy gì ?

Làm nghề buôn-bán kẻ quê, 

Nuôi con cả nhớn, dạy nghề làm ăn.

IV – Đinh Bộ Lĩnh nhớn lên không theo nhờ mẹ dạy

Ngô-vương dẹp được xa gần, 

Giới thằng Công-Tiễn, cứu dân thời loàn. 

Mẹ con mừng được ở an,  

Muốn dân đều khỏi tầm than từ rày

Những màng lần-lữa tháng ngày, 

Bộ-Lĩnh tuổi rày đã đến mười hai.

Thanh-cao tinh-khí khác người, 

Bàn-bạc sự đời mấy kẻ trượng-phu.

Cửa nhà chút chẳng đoái lo, 

Sự bé hồ-đồ, sự cả hẳn-hoi.

Việc vàn chẳng có thông coi, 

Những lăm ra đời mà lập công danh.

Rằng người đã vả giời sinh, 

Phú quí đã đành, sang trọng đã chia.

Lọ là săn sóc làm chi ? 

Nên thì xẻ lấy, nên thì nở-nang.

Lẵng-lờ dại chợ đến làng, 

Đánh đàn đánh đố cùng phường chăn trâu. 

Mẹ thương nuôi nấng bấy lâu, 

Đói no chẳng quản, chảo rau chẳng hiềm. 

V – Đinh Bộ Lĩnh cùng lũ trẻ chăn trâu tập làm nghi vệ thiên tử

Đông-gia có một làng-điềng 

Thấy chồi bèn mới dỗ khuyên rằng vầy.

Ngồi dưng cũng huống công này, 

Chăn trâu qua (8) sẽ tính ngày bả công 

Sự may hẳn khéo xui lòng, 

Ngày những ra đồng cùng trẻ chăn trâu. 

Quay cùng phụ cận đánh nhau, 

Bạo âu như sói, mạnh âu như hùm.

Một mình chịu trăm chịu nghìn, 

Tiên bình cầm gậy như tên xông vào

Đuổi khua chúng rạt như bèo. 

Chúng hãi chúng đều bầu làm đàn anh. 

Họp nhau những trẻ tênh-tênh, 

Nhỏ làm quân-quốc, nhớn tranh tước quyền. 

Bốn người cũng nghĩ có quân: 

Nguyễn-Bạc, Đinh-Điền, Trịnh-Tú, Lưu-Cơ. 

Toan nhau nói sự mở đồ: 

“Tập-tành nhớn dạy thì vừa chúng ta. 

Giời cho làm chủ quốc-gia, 

Quan trọng tập san dễ hòa trị dân “.

Hoa-lư dạm biệt mấy lần 

Lau làm dài-các, công ngân lũy-thành, 

Đặt làm có cơ, có doanh, 

Có quân, có vệ, có thành, có ti.

Trên làm bảo điện uy-nghi, 

Trong cả đàn-trì, ngoài có nghi-môn

Triều-đình đặt những vệ quen, 

Tả-ban Bặc, Điền, hữu-ban Tú, Cơ.

Cùng nhau liệu-lượng toàn lo, 

Làm dù bằng non, làm cờ bằng lau.

Trì ra tự thuật chước màu,

Tùy nhau giao thu, đứng nầu làm ngai, 

Qùy cho Bộ-Lĩnh lên ngồi, 

Gióng ba tròng miệng, dâng mười chiêng tay. 

Những trẻ phụ-cận đó đây, 

Làng nào cơ ấy đóng bầy đôi bên.

Hễ nghe úng miệng dọng lên, 

Hò reo ba tiếng dậy miền Hoa Lư. 

Thiên-tử ngự vệ nghiêm như, 

Đùn-đùn mây họp, ù-ù gió ran.

Rước lấy Bộ-Lĩnh lên đền, 

Bài ban nhã vệ, đôi bên khấu đầu.

Tung hô ba tiếng quỳ tâu: 

Vua muôn muôn tuổi, sống lâu trùng-trùng!” (4). 

(Trích ở quyền Thiên-nam ngữ lục ngoại kỷ sách viết bằng chữ nôm của trường Bác-cổ, số AB 478, to 58b-60b)

(còn nữa) 

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Sao đã loạn-lạc như thế, mà Tàu lại để yên ? Tưởng nên chép lại đoạn sử nhà Ngô (939-985) theo sách tàu để độc-giả biết đại-khái cái tình hình nước ta hồi bấy giờ. Quyển Việt kiệu thư (sách viết của Trường Bác cổ, số 781, quyển 4 tờ 19a-20a, hiện chưa ai dịch ra quốc văn chép “nhà Hậu Tấn, Cao-tổ Võ đế, năm Thiên-phúc thứ ba (938) tướng cũ của Dương-đình-Nghệ (có chỗ chép là Dương-diên-Nghệ) là Ngô-Quyền tự Ái-châu có binh đánh Kiều-công-Tiễn (có chỗ chép là Hiệu-Công Tiễn) ở Giao-châu. Tiễn sai sứ mạng của cầu cứa với nhà Nam-Hán; vua Nam-Hán là Lưu-Nham sai con là Vạn-vương Hoằng Thao (phong làm Giao-vương) đem quân đi cứu. Vua phà Hán tự làm tướng đóng đồn ở cửa bể để giúp, nhân hỏi kế Sùng-Văn. Văn sai Tiên-ích thưa rằng: “Nay mưa dầm nhiều tuần, đường bể hiểm xa; Ngô Quyền là người kiệt-hiệt, chưa có thể khinh, quân nhớn nên trì-trọng dùng nhiều hướng-đạo, rồi hẵng tiến”. Vua nhà Hán không nghe, sai Hoằng-Thao đem chiến-hạm tự Đằng-giang kíp đến Giao-châu. Lác ấy Quyền đã giết Công-Tiễn, giữ Giao-chân, dẫn binh đón đánh ở cửa bà, chôn chiều cọc nhớn đầu bịt sắt, sai thuyền sai thuyền nhẹ, nhân nuớc triều khêu đánh, giả cách trốn: phút chốc nước triều xuống, thuyền nhà Hán đều mắc cọc sắt, giở lại không được, quân nhà Hán thua, quan quân chìm đắm quá nửa, Hoằng-Thao chốt, và nhà Hán thương khóc, thu dư-chúng giở về. Năm Hiển-đức thứ nhất nhà Hậu-chu (944) Tĩnh hải tiết-độ sứ là Ngô Quyền chết. Vua nhà Hán tự khi Hoàng Thao đi đánh bị chết, đành để Quyền làm vua, không sang đánh. Quyền nhân thế giữ Giao-châu được lâu. Khi Quyền chết, con là Xương-Ngập (951-954) lên ngôi (đoạn này sử ta chép hơi khác). Xương-Ngập chết, em là Xương-Văn (951-985) xin mệnh nhà Nam-Hán. Vua nhà Hán là Thạnh phong Xương-Văn làm Tĩnh hải tiết-độ sứ, kiêm An-nam đô-hộ. Sau Xương-Văn chết, 1ũ tham-mưu là Lã Xử Bình (có chỗ chép là  Ngô Xử Bình, v.v.) Phong-châu thứ-sử là Kiều tri Hộ, Võ-ninh-châu thứ sử là Dương-Huy, nha-tuớng là Đỗ-cảnh Thạc tranh nhau lên ngôi, trong quản mười hai châu nổi loạn, dân ở bộ kêu ca họp-tập, dấy làm giặc cướp để đánh Giao-châu. Trước kia Dương đình-Nghệ lấy nha tướng là Đinh công-Trứ quyền Hoan châu thứ sử, kiêm Ngự phiên đô đốc, sinh con là Bộ Lĩnh, Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối nghiệp, sinh con là Liễn. Bộ-Lĩnh cùng Liễn đem quân đánh lũ Xử Bình: đảng giặc tan vỡ, trong cõi yên, dân ở bộ nhớ công đức, bèn tôn Bộ-Lĩnh làm Giao châu súy, tự gọi là Đại thắng-vương, đặt Liễn làm tiết độ sứ, vua nhà Nam Hán là Chương cũng nhân thế mà lấy chức tiết-độ-sứ trao cho Liễn.

2) Đại- Việt sử-ký tiền-biên (bản-kỷ, quyển 1, tờ 11) cũng chép (mẹ vua Đinh Tiên-Hoàng là Đàm-thị thường mộng thấy một kẻ trượng-phu, tay cầm ấn ngọc, muốn thác mình làm con 3) Chữ “que” ở đây nghĩa là ta chúng ta. Xét chữ ấy và một vài chữ nữa trong tập Thiên-Nam ngữ lục thì có lẽ tác-giả bài văn này là người đường trong, làm vào cuối đời nhà Lê.

4) Việt sử lược (nguyên bản Tứ khố toàn thư, quyển 1, tờ 16a) chép “Tiên-vương lĩnh mọi bộ, họ Định, người động Hoa-lư. lúc bé mồ côi cha, cùng mẹ ở bên sơn-thần-từ. ngoài cửa có núi, trên lá bụi sen vết ốc sên bò thành chữ ‘thiên tử’. Vua Tiên-hoàng lúc còn bé, được những trẻ chăn trâu ở đồng núi tôn làm trưởng, lấy lễ vua tôi thờ, cùng nhau đùa bỡn, giao tay làm kiện để rước vua, lại lấy hoa lau làm tiền-đạo, bên tả bên hữu đưa, hình như thiên-tử đội-trượng. Ngày thường mọi đứa trẻ cùng đi kiếm củi, đồ cùng thuế-dịch, chiều về với mẹ mẹ thấy thế mừng, mổ lợn để thiết. Những người già-cả ở trong làng đều bảo nhau rằng: ‘Đứa bé này khí vũ chẳng phải thường, hẳn có thể giúp đời yên dân, 1ũ ta nên chẳng sớm phụ, ngày khác ăn năn thì muộn’, bèn đem tử-đệ đi theo”. Đại-việt sử-ký toàn thư (quyển 1, tờ 1a-b), Khâm định việt-sử thông-giám cương mục (chính biên, quyển 1, tờ 1b) chép hơi khác một chút.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn