XI Đinh Bộ Lĩnh lạc đường vào ngủ nhờ một cảnh chùa

Nép mình chẳng dám nói-năng, 

Thày mới hỏi rằng : “Ai đến làm chi ?”

Nói trình sau trước vân-vi: 

“Khó đi kiếm cá, gặp thì chẳng may,

Tối-tăm mưa giả nhường này, 

Về chẳng biết nẻo, cạy thày cho nương.” 

Thày nghe cảm cảnh lòng thương. 

Dọn cơm thết-đãi, dọn giường nghỉ-ngơi. 

Thày hay cao ý dạy ngồi, 

Vắng đêm thấy người dao xét sự-duyên. 

Bỗng sao sáng khắp hòa chiền ? 

Thày ngờ Phật giáng thày liền cúng hương.

Động bèn chẳng thấy hào-quang. 

Nín thôi thời đại bừng-bừng như xưa.

Thấy trong chỗ nghỉ (1) sảng ra. 

Biệt tình thày chẳng có ngờ chi đâu.

Sáng ngày thày hỏi trước sau, 

Ngọc khuê nghĩ (1) mới đem hầu thày coi

Nhìn đi nhìn lại một thôi ! 

Giờ lâu thày mới mở nhời nói ra:

“Con ta (2) phúc đức hay là, 

Ngày sau làm chủ quốc-gia trị đời.

Nhưng hiếm phúc hưởng chẳng dài,  

Ngắn dài có số, tượng giời đã chia,

Phô loài phù thụy xưa kia, 

Như hoa khai lạc, một thì bằng nay.

Đức năng thắng số ai hay, 

Con hãy tu đức, mai ngay sẽ bù,

Thày cũng là kẻ sư-mô,  

Xưa làm thuật-sĩ, nay tu ở già.”

XII Đem ngọc khuê đến tìm Trần Minh Công 

Tạ thày, Bộ-Lĩnh trở ra, 

Một mình lưỡng-lự, cùng hòa dở-dang. 

Mong về Gia-viễn cố-hương (4), 

Lại lo lòng chú chẳng thương hồ-đồ.

Mong về Giao-thủy chốn xưa, 

Tổ-tông chi đấy mà cho chóc mòng.

Xưa nay mãn kẻ anh-hùng,

Biết bao khổ nhục kể cùng gian-nan !

Lấy nền công nghiệp làm hơn, 

Nào toan sinh-tử, nào toan nhọc-nhằn.

Ngùi-ngùi nhớ đức tiền-nhân, 

Bao giờ sáng chút một phân đèn mờ ? 

Cam lòng phỉ ước thuở xưa, 

Nghi còn mặt thấy, nào ngờ mình xa !

Đau lòng âm ỷ xót-xa. 

Sứ-quân thập nhị tranh đua đêm ngày (4).

Nào ai còn nhớ nghĩa thày ! 

Mạnh đâu cứ đấy, múa-may anh-hùng,

Khá khen họ Trần Minh công (5)  

Ở ngoài Bố-hải cả dung anh-tài (6),

Bộ-Lĩnh tuổi đã hai mươi, 

Ngồi chẳng chỗ ngồi, ăn chẳng chỗ ăn  

Tai từ nghe thấy đức nhân, 

Có lòng đãi-sĩ, có ân dung người.

Ta sang ở đấy hôm mai, 

Họa may lòng giời, có hậu cũng chăng.

Gìn lòng giữ báu khăng-khăng, 

Hiền xưa từng rằng: “Vật bắt li thân”

Bá-phu Hàn-tỉ để phân,  

Chẳng nên thời đổi lấy quân giữ nhà.

Một lòng quyết chẳng hai ba, 

Thăm đường Bố-hải, tìm ra xưng thần.

XIII Trần Minh Công gả con gái cho Đinh Bộ Lĩnh 

Cửa dinh thơ-thẩn hỏi dần, 

Tình cờ khi ấy họ Trần ra chơi

Thấy lạ bèn hỏi:  “Ấy ai ?” 

Rằng: “Tôi là người quê ở Hoa-lư.

Cha tôi thứ-sử Hoan-chu (7), 

Là Đinh-công-Trứ đời vừa chiến-tranh.

Sinh ra còn trẻ phù-sinh, 

Loạn về quê cũ, đem mình lên tiên.

Mẹ tôi góa bụa khổ hèn, 

Giai thuở thất quyền, gái nhỡ hồng-nhan.

Liền nên nhị rữa hoa tàn, 

Bướm chẳng đoái nhìn, ong chẳng tham thanh

Mẹ nam con bắc cầu sinh, 

Tôi bỗng một mình, lạc đến chưng đây”.

Trần-công thấy nói biết hay, 

Con dòng nhỡ bước, thương thay ngùi-ngùi.

Nhìn em diện-mạo khác người, 

Dưới phàm họa có dễ ai sánh cùng 

Mày giăng, tóc phượng, mũi rồng, 

Trượng-phu đã hẳn, anh hùng chẳng sai.

Bảo rằng: “Chú ngỡ là ai ! 

Xưa Đinh công-Trứ với người đã giao 

Loạn phân từ ấy cách nhau, 

Kẻ nhậm chư-hầu, người làm tá-vương,

Trượng-phu nghiệp ngỡ vững-vàng, 

Nào ngờ tạo-hóa nhỡ nhàng người vay !

Giời xui con lại đến đây, 

Nghĩa cũ một ngày muôn kiếp chẳng phai.

Chú nay chưa có con giai, 

Lo sau hậu-sự cho ai nghiệp này ?  

Xin con ở cùng chủ đây 

Cho chú dạy-dỗ họa rày nên thân”.

Thấy nói Lĩnh mừng muôn phần, 

Cửa dinh hầu hạ chuyên cần vào ra. 

Xem Trần-công vững đạo cha, 

Có ăn có mặc, liền ra thân người.

Một ngày là một tốt tươi, 

Dung nhan diện mạo khác người phàm dân.

Duyên giời tạo-hóa theo phân, 

Họ Trần con gái vừa tuần tuổi nhau,

Minh-công xem biết trước sau, 

Anh-kỳ khôi-vĩ thế đâu cho bằng ?

Hòa thêm hồ bộ long hành, 

Thiên biểu nhật dốc, thực hình để vương. 

Dưỡng nuôi xem vững ngọc vàng, 

Mấy quyền trao ấn, gả nàng kết ơn.

Trong ngoài mặc sức đem quân, 

Quan sứ họ Trần niên lão ngồi nghe.

XIV  Đinh Bộ Lĩnh viết thư về nhà

Viết thư bèn khiến một người 

Về trình mẹ chú khúc nhôi hay tình.

Cùng thăm Nguyễn, Trịnh, Lưu, Đinh (8) 

Hợp chư quần mục, phân minh sự lòng.

Thấy thư ai nấy hái hùng, 

Họ hàng thân thích, tây đông trong ngoài.

Nghe tin cả bé ai ai, 

Đặt bằng sấm dậy, giời xui người lam.

Bấy giờ tin bắc tin nam, 

Như rồng thêm cánh, như hùm thêm vây. 

Nguyễn, Đinh, Lưu, Trịnh biết hay, 

Rủ nhau ai nấy kỳ này đến nơi.

Đinh công thấy mặt ngùi ngùi, 

Nghĩa thày tớ cũ, cùng ngồi dã nhau.

Năm người ngước mắt nhuốm thâu, 

Những ngờ lưu lạc, hay đâu sum vầy ?

Thối liên chén chuốc vơi đầy, 

Yến duyên cao thấp, tiệc vầy y-la  

Bảo nhau sự cũ lâu xa, 

Bởi có lợn ấy cho ra nỗi này.

“Mỗ từ lưu-lạc bầy-chầy, 

Nhớ đến nhau rầy, trong dạ còn đau.

Bây giờ được thấy mặt nhau, 

Dầu nên kia khác, thể âu ở giời”.

Trần công sảy thác hôm mai, 

Tớ thày rộn rịp trong ngoài lo toan.

(Còn nữa) 

Ứng hòe- NGUYỄN VĂN TỐ sao lục

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(Trích ở quyển Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ, sách viết bằng chữ nôm của trường Bác-cổ, số AB 478, tờ 62b – 64b).

1) “Nghĩ” ở đây là “chẳn”, tiếng đường trong; có người đọc là “ngài”. 

2) “Con ta” dịch đúng chữ “ngô tử” trong Đạo Việt sử-ký (bản ký, quyển 1, tờ 8b): “ngô tử tha nhật quí bất khả ngôn, nhà người ngày sau sẽ hiển-đạt không thể nói xiết. 

3) Gia-viễn là tên đặt sau; thực ra thì hồi bấy giờ còn gọi là Đại-hoàng. Khâm-định Việt-thông-giám cương mục (chính biên, quyển 1 tờ 2b) chua “Đại-hoàng là tôn châu, nay là huyện Gia-viên, thuộc tỉnh Ninh-bình)

4) Theo quyển Đại-Việt sử ký tiền-biên bản kỷ, quyển 1, tờ 10-28) và quyển Đạt-Việt sử-ký toàn-thư (bản kỷ, quyển 1, tờ 2a), hồi năm 965 “mười hai sứ-quân cùng xưng hùng-trướng và cất giữ bờ-cõi, là Ngô-xương-Xi giữ Bình-kiền, Ngô-nhật-Khánh giữ Đường-lâm, Kiều Tam-chế giữ Phong-châu, Nguyễn Thái-bình giữ Nguyễn-gia loan, Đỗ-cảnh-thạc giữ Đỗ-động-giang, Nguyễn Lệnh-công giữ Tây phù liệt, Lư Tá-Đường giữ Tê-giang, Nguyễn thú-Tiệp giữ Tiên-du, Lí Lãng-công giữ Siêu loại, Kiều Lệnh-công giữ Hồi hồ, Phạm-phong-Át giờ Đăng-Châu, Trần Minh-công giữ Bố hải”. Những đất ấy nay tên là gì, có sách quốc-ngữ đã mọi tới, như quyển Việt-nam sử-lược của ông Trịnh trọng-Kim, nhưng không thấy căn cứ vào đâu cả. Nay muốn kê-cứu cho tường tận, phải viết ra một bài riêng, không thể nói qua-loa ở chỗ phụ-chú được,

5) “Đinh Bộ Lĩnh nghe Trần Minh-công có đức, đến theo. Minh-công sai giữ binh quyền; lúc Minh-công mất, Bộ-Lĩnh nhận quân ấy giữ Hoa-lư, thu phục những kẻ bào kiệt và giữ nơi hiểm-yếu. Hai vua Ngô Nam-Tấn và Ngõ Thiên-Sách (954-965) đánh không được. Lúc nhà Ngõ mất (năm 965), Bộ-Lĩnh hàng được Phạm-phong-Át, đanh tan được Đỗ-động, đánh bại được thành ấp, đi đến đâu đánh được đến đấy, nên gọi là Vạn-thắng vương, rồi đẹp yên được mười hai sứ-quân, tự lập làm vua”. Khâm-định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển 1, tờ 2 ab).

6) Ong G. Damontier làm baì Blade historiqad el arche. ologique sar Hoa-lu, premlère capllale de l`Annam indé-pndant, donaslies Binh et Le (antérieurs), 968 à 1010 de notre ère. Đăng trong Balletin de géographie his ori-que et descriptioe, năm 1893, trang 38-174, nói rằng Bố hải là làng Kỳ-bố, huyện Vũ-tiên phủ Kiến-xương, tỉnh Nam-định (nay thuộc tổng Lạc-đạo, huyện Vũ-tiên, tỉnh Thái Bình). Đời nhà ĐInh Bố-hải ở ngay trên bờ bể, nay thì cách bể đến 30 cây số, thành ra ở chỗ ấy, tính từ thế-kỷ thứ mười 7 đến bây giờ, mỗi năm bồi thêm được chừng 30 thước tây.

7 An-nam chí nguyên chép Đinh-công-Trứ “làm nha tướng cho Dương-đình-Nghệ; cuối đời ngũ-đại, Đình-Nghệ, hộ giữ Giao-châu, cho Công-Trứ quyền nhiếp Hoan-châu. Từ khi Ngô-Quyền (939-944) giết được Kiều-công-Tiễn, thì cha con Bộ-Lĩnh về với nhà Ngô, nhân thế Ngô Quyền cho Công-Trứ hoàn chức cũ” (Ngan-nan tche yuan, Trang 182-183). Quyển Ninh-bình sự-tích (sách viết bằng chữ Hán của Trường Bác-Cổ, số A 1406, tờ 38 b) chép rằng trong Trưởng-yên sự-lục, dưới tên ông Đinh-ông-Trứ, có đề sáu chữ ( trấn Hoan ngự Phiên minh-đức ).

8) Nguyễn-Bắc, Trịnh-Tú, Lưu-Cơ, Đinh-Điền, đều là người ở Hoa-lư, châu Đại-hoàng, cùng thời với Đinh-Bộ-Lĩnh. Đinh-Điền theo Định-bộ-Lĩnh đi dẹp mừơi-hai sứ-quân, được phong làm ngoại-giáp-công, cùng với Nguyễn-Bắc khởi binh đánh Lê-Hoàn (980-1005), không được, bị chết. Nhà Lí (1009-1925). phong làm phúc-thần, dân nhiều chỗ thờ. Lưu-Cơ làm quan đến đô-hộ-phủ sĩ-sư (sĩ-sư là tên quan bắt-chước chức bình-quan của đời Đường Ngu, xem Việt-sử cương-mục, chính-biên, quyển 1, tờ 4b). Trịnh-Tú khi Thiếu-đế (Đinh-Toàn, 979-980) lên ngôi, có sang nhà Tống cầu phong (chép theo quyền Ninh-bình sự-tích, sách viết bằng chữ nho của Trường Bác-Cổ, số A 1406, tờ 39 a-b, và quyển Ninh-bình tỉnh chí, sách viết của Bác-Cổ, số A 1268, tờ 48b-49a).